Thứ Ba, ngày 28 tháng 7 năm 2015

CHÙA VẠN LINH: Lễ Húy Kỵ Lần Thứ 61 Tổ Khai Sơn


TIỂU SỬ HÒA THƯỢNG THIỆN QUANG
Hòa thượng thuộc dòng Lâm Tế Gia Phổ đời thứ 40, đệ tử của Hòa thượng Tổ sư Viện chủ Tổ đình Phi Lai. Pháp danh Thích Thiện Quang, húy Hồng Xưng.
Hòa thượng tên thật là Nguyễn Văn Xứng, sinh năm 1895 tại Vồng Keo, nay là ấp Tân Thuận, xã Tân Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre.
Con của ông Nguyễn Văn Chiếu và bà Võ Thị Sáng trong một gia đình phú nông nhiều đời tích đức. Ngài là con thứ năm trong một gia đình có bảy anh chị em và là con trai duy nhất trong nhà.
Lớn lên trong hoàn cảnh đất nước bị người Pháp đô hộ, thấm thía nỗi thống khổ của người dân nô lệ, Ngài đã âm thầm tụ tập bạn bè, luyện tập võ nghệ. Sau gia nhập tổ chức Thiên Địa Hội, tiền thân là tổ chức phản Thanh phục Minh của Trung Hoa vì bị đàn áp truy đuổi nên tỵ nạn sang Việt Nam và lâu ngày Việt hóa thành tổ chức chống Pháp.
Vào thời đó, những gia đình khá giả thường bị người Pháp buộc phải tham gia làm việc trong Ban Hương Chức Hội Tề. Gia đình Ngài cũng không ngoại lệ.
Cha Ngài làm Hương Cả, tục gọi là Cả Chiếu. Bản thân Ngài làm phó Hương Quản. Vì vậy, nên mãi đến năm 24 tuổi, sau khi gia đình thúc ép nhiều lần, Ngài mới lập gia đình. Sau này có được hai người con, một trai một gái.
Lập gia đinh chưa được bao lâu, Ngài sinh bệnh. Thuốc men khắp nơi không hết. Một hôm, có vị Sư cùng quê tu trên núi Két (Thất Sơn) về thăm. Gặp Ngài, bảo: “Muốn hết bệnh, lên núi Sư giúp!”.
Khi đó, tổ chức Thiên Địa Hội, Ngài tham gia bị lộ nên bị bắt rất nhiều, tuy nhiên mật thám chưa lần được ra Ngài. Lúc đó là năm 1918.
Một hôm, trong làng có việc, Hương Quản đánh mõ triệu tập dân chúng. Ngài đang ăn cơm nên ra trễ: ông Hương Quản bắt lỗi và sẵn cầm dùi, đánh Ngài luôn. Ngài giật dùi đánh lại, xong bỏ về. Sự việc này xảy ra như giọt nước cuối cùng làm tràn ly nước. Ngay ngày hôm đó, Ngài thu xếp gia đình, khăn gói lên đường, hướng về Thất Sơn, Châu Đốc lánh thân. Tìm đến núi Két, gặp được vị Sư ngày trước kể rõ sự tình, được Sư cho ở lại trị bệnh và sau đó học nghề thuốc. Bệnh duyên lần thuyên giảm. Ở đây, gần gũi chư Tăng, tìm hiểu Phật Pháp. Vốn sẵn căn lành, Ngài nhận ra cảnh đời vô thường nên trong tâm nhen nhúm chí xuất trần. Thời gian sau, thấy yên ổn nên Ngài về thăm nhà rồi lại lên, suốt nhiều năm như vậy. Lần hồi, đạo tâm ngày càng kiên cố, lại thêm vị Sư khuyến khích, nhưng vì núi Két gần chợ, Phật tử thăm viếng thường xuyên nên Ngài có ý tìm nơi khác. Sau khi nghe núi Kỳ Hương có chùa Phi Lai, nơi trụ xứ của Hòa thượng  thượng Chí hạ Thiền, một bậc chân tu đắc đạo, giới đức tinh nghiêm đang giáo hóa, đồ chúng rất đông, nên Ngài tìm đến bày tỏ nguyện vọng và được Tổ cho quy y ở lại công quả tập sự. Năm sau, 1925, đầy đủ duyên lành, được Tổ cho thế phát xuất gia với pháp danh là Thiện Quang, húy Hồng Xưng, nhập chúng tu học. Từ đó, Ngài siêng năng tinh tấn, chuyên tâm học tập kinh luật. Ngài vốn người tính tình lặng lẽ, thâm trầm, thích ở nơi vắng lặng, ít người lui tới để đễ bề tu tập. Nên sau mùa an cư năm 1927, Ngài trình bày nguyện vọng của mình và được Tổ cho phép. Ngài lên núi Cấm, tìm một nơi vắng vẻ dưới chân vồ Bồ Hông, không xa chùa Phật lớn bao nhiêu, cất am chuyên tu.
Ngài chuyên trì chú Đại Bi và niệm danh hiệu đức Quán Âm, thuần thục đến độ khi ngủ vẫn niệm.
Đài Quan Âm trong khuôn viên chùa.
Sinh thời, Ngài có những hành tung kỳ đặc mà người thường khó biết. Trong chùa, những việc quan trọng Ngài thường cho biết hoặc huyền ký như trường hợp Hòa thượng Vạn Đức khi gặp Ngài xin quy y thế phát. Ngài đã có những huyền ký về cuộc đời Hòa thượng mà sau này nghiệm lại rất đúng.
Ngài lại có tài trị bệnh, nhất là bệnh tà, nhiều con nệnh chữa chạy khắp nơi không hết. Tìm đến, Ngài chữa trị rất đơn giản bằng thuốc núi … Bệnh tà thì khuyên răn dạy bảo, khi xối nước hoặc mua dầu cúng Phật, vậy mà hết bệnh.
Tiếng lành đồn xa, nên người tìm đến hoặc xin trị bệnh, học thuốc, học đạo. Rồi cảm ân đức Ngài nên có người xin công quả, kẻ xin xuất gia. Am trang chật chội, Ngài cho xây thêm Chánh điện, Tăng phòng, kho bếp.
Năm 1941, nhờ Phật tử phát tâm ủng hộ. Ngài cho xây dựng chùa với quy mô bề thế nhất núi lúc bấy giờ.
Năm 1945, cuộc kháng chiến chống Pháp toàn dân bùng nổ, núi Cấm vốn là nơi hiểm địa nên những người yêu nước thường chọn làm căn cứ tổ chức chống Pháp.
Năm 1946, chính quyền Pháp hay được nên ra lệnh đuổi xuống núi không kể là Tăng hay tục. Vì lẽ ấy nên Ngài cùng đồ chúng xuống núi, về tạm lánh tại nhà Phật tử ở Trí Tôn chờ xem tình hình ra sao.
Đầu năm 1947, thấy chiến sự ngày càng tăng, không hy vọng gì trở lại. Hòa thượng về chùa Linh Bửu, cầu Bông, Bình Thạnh, Sài Gòn theo lời mời của một số Phật tử. Về ở trên gác, Ngài cũng tinh tấn chuyên tâm tu tập, không lúc nào ngừng ngớt.
Ngày 20 tháng 11 năm Quý Tỵ (1953), sau khi đi dự lễ thượng lương cho bổn đạo về, Ngài không chịu ăn, chỉ uống nước. thị giả dâng cơm, Ngài nói: “Ăn cũng vậy, không ăn cũng vậy. Ăn chi, để bụng cho nó sạch!”.
Đến ngày 23, đồ chúng lo sợ, mời thầy thuốc đến xem bốc thuốc. Thị giả dâng thuốc, Ngài cũng không uống và nói: “Uống cũng vậy, không uống cũng vậy. Uống làm chi!”.
Qua ngày 24, bảo với đại chúng: “Mấy đứa bây chuẩn bị, sáng mốt đưa tao về!”. Đồ chúng tưởng Ngài muốn về núi, nên thưa lúc này trên núi còn lộn xộn lắm chưa về được. Ngài nói: “Thôi, mấy đứa bây có giỏi, niệm Phật đua với tao!”.
Từ đó, Ngài chuyên niệm Phật cùng đại chúng. Đến sáng ngày 26-11, Ngài ngồi trên giường đang cùng đại chúng niệm Phật. Sau khi niệm to đứt quãng: “Nam … Mô … A … Di … Đà … Phật” rồi tự nằm ngay thẳng xuống giường như người nằm ngủ. Mọi người coi lại thì Hòa thượng đã viên tịch. Lúc đó, đúng 08 giờ 15 phút sáng ngày 26-11 năm Quý Tỵ (31/12/1953). Trụ thế 59 tuổi.

Chư tăng, chư ni và Phật tử trong thời khóa tối ngày 23/11 ÂL.

Vì phải chờ môn đồ pháp quyến và thân nhân đến đông đủ, nên đến 03 giờ chiều ngày 27-11 mới tẩn liệm. Song nhục thân Hòa thượng vẫn mềm mại, da thịt vẫn như người sống. Sau đó nhục thân của Ngài được đưa về an táng ở sau chùa Vạn Đức, Thủ Đức.
Đến năm 1983, Hòa thượng Thiện Thành, trụ trì Tổ đình Vạn Linh đời thứ hai, tổ chức thỉnh nhục thân Ngài về núi nhưng sự việc không thành, đành đưa về thành phố hỏa táng. Tro cốt được thờ ở tháp Phổ Đồng, chùa Huệ Nghiêm, Bình Chánh.
Năm 1995, dưới sự chỉ đạo của Hòa thượng Vạn Đức, Tổ đình Vạn Linh được trùng tu lại. Sau khi hoàn chỉnh cơ bản khu chánh điện, tháp Tổ được tiến hành xây dựng.
Bảo tháp lưu linh cốt HT Vạn Linh (ảnh trái) và Bảo tháp tưởng niệm HT Vạn Đức.
Ngày 24-11 năm Mậu Dần (1998), Hòa thượng Vạn đức cho tổ chức thỉnh Phật về núi, đồng thời thỉnh linh cốt Hòa thượng khai sơn về làm lễ nhập tháp. Như vậy, sau đúng 45 năm, tâm nguyện của Tổ đã được viên thành. Sự nghiệp của Ngài đã được hàng môn hạ truyền đăng tục diệm.
Hòa thượng Vạn Đức đã tóm lược cuộc đời Ngài bằng bốn câu thơ:
Thiện tự nội tàng thời hãn ngộ
Quang truyền ngoại hóa thế đa quy
Vạn Linh sơn trụ khai mông muội
Linh Bửu tây quy hiển thoại tường”.

Tạm dịch:
“Thiện ẩn bên trong đời ít biết
Quang độ người ngoài lắm kẻ quy (y)
Vạn Linh ở núi khai mông muội (tăm tối)
Linh Bửu về Tây hiển điềm lành”.

Với tinh thần “biết ơn đền ơn”, Thượng tọa trụ trì Thích Hoằng Tri cùng chư tôn đức tăng đã trang nghiêm tổ chức Lễ húy kỵ Hòa thượng khai sơn chùa Vạn Linh (23 và 24/11/Giáp Ngọ – 2014). Buổi lễ diễn ra dưới sự chứng minh của HT Thích Thiện Nhơn, quyền Chủ tịch HĐTS GHPGVN, HT Thích Minh Thông Trưởng ban Tăng sự THPG Tp.HCM, cùng chư Tôn đức Tăng Ni trụ trì các tự viện và hơn 3000 Phật tử cùng về tham dự lễ giỗ. Đại chúng cùng thanh tịnh trì danh hiệu đức Phật A-mi-đà. Tiếng niệm Phật vang rền khắp cả vùng rừng núi Vạn Linh. Chốn Tổ thực sự đã được trùng hưng, đúng với ý nghĩa “trao đèn nối đuốc”, “dẫn dắt người sau, báo ơn đức Phật”.
Kính nguyện: Tổ ấn trùng quang, đèn Phật sáng trưng mãi mãi, pháp luân thường chuyển, đại chúng an hòa, tiến tu Tịnh nghiệp, cùng sanh Cực Lạc, cùng thành Phật đạo, cùng độ chúng sanh.
Một số hình ảnh được ghi nhận:


Chánh điện (mới) nhìn từ bên ngoài.

Tôn tượng đức Bổn sư trong chánh điện.
Phù điêu HT Vạn Linh (ảnh trái), và tiểu sử được khắc trên Bảo tháp.

Lễ đài mừng ngày Vía đức Từ phụ A-mi-đà Phật.

Thượng tọa trụ trì (đi đầu) cùng chư tăng, chư ni quang lâm.

Chư tăng, chư ni lễ tổ.




Thời khóa Tịnh độ (thời công phu tối).
Bảo tháp xá lợi.




ĐĐ.Thích Pháp Đăng (trụ trì chùa Huệ Viễn – Đồng Nai) chia sẻ kinh nghiệm tu tập qua bài pháp thoại “Hương quê Cực Lạc”.


Chư tăng, chư ni tham dự trong thời pháp thoại.

Đông đảo Phật tử cung kính lắng nghe.

Chánh điện chùa Phật Lớn.

Tượng Phật Di Lặc trên đỉnh núi Cấm, cao 33,6 m (tính từ dưới chân đế đến đỉnh đầu), diện tích bệ tượng 27×27 m, tổng trọng lượng cả nền và vỏ tượng gần 1.700 tấn bê tông, cốt thép. Ngày 2 tháng 1 năm 2006, tượng được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục là “tượng Phật Di Lặc trên đỉnh núi lớn nhất Việt Nam”. Và đến ngày 29 tháng 5 năm 2013, thì tượng được công nhận là “tượng Phật Di Lặc lớn nhất trên đỉnh núi ở châu Á”.


Cá trong hồ phóng sanh ở chùa Phật Lớn.