Chủ Nhật, ngày 22 tháng 1 năm 2012

DẪN GIẢI 8 GIỚI VÀ TRAI PHÁP CỦA PHÁP TU BÁT QUAN TRAI.




LỜI GIỚI THIỆU

Trong văn tác bạch thỉnh Sư truyền giới Bát Quan Trai có ghi: “Chỉ tu hạnh xuất gia mới thành tựu công đức xuất thế. Chúng con vì gia duyên ràng buộc nên không thể hoàn toàn làm hạnh xuất gia. Nay cần cầu trên Hoà Thượng Từ Bi truyền pháp Bát Quan Trai cho hàng Phật tử tại gia tu hạnh thanh tịnh ly dục trong một ngày một đêm”…
Qua đó chúng ta thấy được lòng Từ Bi của đức Phật, vì muốn cho hàng tại gia gieo giống công đức xuất thế nên chế ra pháp tu Bát Quan Trai Giới để cho hàng tại gia tập làm người xuất gia một ngày một đêm. Đúng ra người tu pháp này phải ở lại Chùa trọn một ngày một đêm, vì chỉ có ở Chùa mới đủ điều kiện cho người tu pháp Bát Quan Trai được viên mãn. Lúc trước ở Chùa đây, Hoà Thượng tổ chức cho người thọ Bát Quan Trai ở lại Chùa tu tập. Sau này vì thời cuộc và dần dần số người tu tập quá đông nên không thể ở lại Chùa. Đa số là sau khi thọ trai buổi trưa xong là về nhà. Chỉ có một số ở lại chiều nghe giới rồi cũng về nhà tiếp tục hành trì. Ở nhà nếu khéo sắp xếp, tạm gát các duyên, chuyên lo tu tập thì cũng được, ngại rằng không sắp xếp được phải duyên theo sinh hoạt gia đình thì kết quả không được trọn vẹn.
Pháp đệ Hoằng Năng thấy được chỗ trọng yếu và chỗ lợi ích rất lớn của người tu tập pháp Bát Quan Trai, nên sưu tập tám điều giới và trai pháp cùng chuyện tích trong Kinh nói về công đức của người tu pháp Bát Quan Trai, với mục đích giúp người tu pháp này thấy được tầm quan trọng của từng giới điều để hiểu rõ mà thật hành đúng pháp, từ đó mới sanh được công đức xuất thế.
Tôi xin nhất tâm tuỳ hỉ giới thiệu với đại chúng, nhất là những người thường tu tập pháp Bát Quan Trai. Cầu nguyện Tam Bảo hộ trì cho pháp bảo này được lưu thông đem lại lợi ích lớn cho mọi người.

NAM MÔ A MI ĐÀ PHẬT
Tỳ Kheo THÍCH HOẰNG TRI






DẪN GIẢI TÁM ĐIỀU GIỚI VÀ TRAI PHÁP
CỦA PHÁP TU BÁT QUAN TRAI

Đức Phật là đấng đại Từ Bi, đại Trí Huệ. Lòng Từ Bi của Ngài thật bình đẳng rộng khắp. Đức Phật nhận thấy hàng Phật tử tại gia vì gia duyên ràng buộc nên chưa hoàn toàn làm hạnh xuất gia. Ngài mới chế ra pháp tu Bát Quan Trai để người tại gia có điều kiện gieo trồng công đức xuất thế. Để tăng trưởng lòng tin cho hành giả xin dẫn ra đây Phẩm thứ ba trong Kinh HIỀN NGU nói về việc của hai người dòng Phạm chí thọ pháp Bát Quan Trai, do hành trì trọn vẹn hay kém khuyết mà có ra kết quả khác nhau. Người tu pháp này thấy đó mà tăng trưởng thêm lòng tin, nghiêm trì giới luật, chuyên cần tu tập Phật Pháp để được kết quả viên mãn.

* * * * * *

Chính tôi được nghe: Một thời Phật ở nước Xá Vệ, tại vườn cây của ông Cấp Cô Độc và Thái tử Kỳ Đà. Lúc đó trời vừa xẩm tối, có hai người cõi trời vào yết kiến Phật, thân thể to lớn đẹp đẽ, người có hào quang, ánh sáng chiếu khắp rừng Kỳ Hoàn trở thành vàng ửng. Tới nơi họ cúi đầu lễ Phật nhiễu ba vòng, rồi lui đứng về một bên, và bạch Phật rằng:
- Kính lạy Đức Thế Tôn! Đấng từ bi cao cả làm Thầy cho hết thảy trời, người. Hôm nay chúng con tới đây cúi xin Ngài chỉ dạy cho một lối tu hành thoát khổ trong sáu thú, được an vui đạo Niết Bàn.
Khi đó Phật cũng tuỳ theo căn khí của họ, thuyết cho họ nghe những pháp thích hợp với tâm lượng của họ, nên hai người đều chứng được đạo quả rồi cúi đầu lễ tạ trở về trời.
Sáng hôm sau buổi trà nước dâng Phật vừa xong, giữa lúc bầu trời êm dịu, thanh khí ôn hòa, trong cuộc thư nhàn vấn đạo, ngài A Nan tới trước bạch Phật rằng:
- Kính lạy đức Thế Tôn! Tối hôm qua hai người cõi trời, lại yết kiến Ngài, coi tướng mạo, và oai nghi tốt đẹp, ánh sáng chói loà, phúc đức đầy đủ, không rõ đời trước họ tu những hạnh gì, nay được kết quả tốt lành như vậy?
Phật bảo A Nan rằng:
- Này A Nan! Ông lắng nghe Ta nói: Thuở xưa đức Phật Ca Diếp ứng thế độ sinh, sau khi Ngài đã diệt độ, bấy giờ pháp đã tới thời cuối rốt (thời mạt), thuở ấy có hai người tu theo dòng Bà La Môn, họ thấy công đức Pháp Bát quan trai cao cả, nên họ xin thụ trì (tu giữ ), người thứ nhất nguyện sinh lên trời, người thứ hai nguyện làm Quốc vương.
Thụ rồi trở về nhà vào lúc đã quá giờ ngọ, người thứ nhất được vợ gọi ăn cơm; anh nói:
- Thôi, em ăn cơm đi, hôm nay anh đã thụ giới Bát quan trai của Phật dạy, cử quá giờ ngọ không ăn! Vậy anh không ăn đâu, em ăn đi, để cho sự Trai giới của anh được hoàn toàn.
Cô vợ thấy chồng nói thế, bực bội cau mặt nghiến răng nói:
- Anh xưa nay thuộc dòng Phạm chí (đạo Bà La Môn) đã có đủ giới pháp, cớ sao hôm nay anh lại đi thụ Trai giới của đạo Phật? Nếu anh không chịu bỏ trai giới ấy, mà ăn cơm với tôi, thì tôi đem chuyện này nói cho tất cả mọi người trong đồng đạo họ biết, họ sẽ đuổi anh ra khỏi bọn họ và chính tôi cũng không chung sống với anh nữa.
Cũng do lòng không vững chắc và nhất là nể vợ, sợ vợ! Nên anh thoái chí bỏ Trai pháp, tức là phá giới "Bát quan trai", ngồi ăn cơm phi thời với vợ.
Hai người nguyện tu Trai pháp ấy, tùy theo tuổi thọ dài vắn rồi cùng chết cả. Người nguyện làm vua thì được sinh vào nhà vua, vì giữ trai giới được hoàn toàn, sau sẽ được làm vua; người nguyện sinh lên trời, vì phá trai giới phải đọa sinh trong loài Rồng.
Cũng do lòng tin vững chắc, trai giới hoàn toàn thanh tịnh, người làm vua nói trên được hưởng một cuộc đời vương giả trong hoàng cung, đầy vẻ tôn sang, thỏa lòng vui sướng với năm cảnh dục lạc của thế gian! Ông vua này có một vườn cây, trong vườn trồng đủ các thứ quả, mùa nào thứ ấy; vườn nầy có một người trông nom, để hàng ngày dâng quả lên vua, gọi là Viên Giám, vua vẫn tin dùng anh là người có khả năng trồng cây coi vườn, tưới bón, tuỳ thời dâng các hoa quả. Một hôm Viên Giám ra giếng nước, thấy một quả trái cây nổi trên mặt nước, quả nầy trên thế gian chưa từng có, sắc đẹp mùi thơm lạ thường, anh vớt lấy và đặt tên cho nó là quả nại. Được quả quý này rồi thầm nghĩ rằng:
- Mỗi khi ta vào thành, quan Môn Giám đã chạy ra đón ta, đối với ta một cách thân mật, ta chưa có gì để đền đáp tấm lòng quý hóa ấy, vậy ta đem quả này biếu Ngài.
Nghĩ thế rồi đem quả ấy biếu Môn Giám. Quan Môn Giám được quả này cũng tự cho là một vật quý, nên không ăn, lại đem biếu ông bạn thân là quan Hoàng Môn, quan Hoàng Môn thấy quả quý cũng không ăn, lại dâng lên bà Hoàng hậu, để mua lấy tấm lòng ưu đãi của bà. Hoàng hậu thấy quả đẹp lạ thơm khác thường, nên bà dâng lên vua dùng. Nhà vua dùng quả này thấy ý vị, mùi thơm từ thuở sinh đến nay chưa từng ăn thứ quả nào được ngon như vậy, liền gọi bà lên hỏi căn do:
- Này Hoàng hậu! Quả mà tôi vừa ăn xong, ngon lắm! Tôi chưa từng thấy quả nào quý như vậy, quả này ai cho?
Hoàng hậu đáp: - Tâu Bệ hạ! Qủa này do quan Hoàng Môn dâng.
Cho gọi Hoàng Môn.
Nhà vua hỏi: - Quả này mua tại xứ nào?
Đáp: - Tâu Bệ hạ! Quả này nhà hạ thần không có, hôm qua quan Môn Giám cho thần, xin bệ hạ khoan thứ.
Cho gọi Môn Giám, vua hỏi:
- Quả ngươi cho Hoàng Môn hôm qua là quả gì, mua ở đâu?
Đáp: - Tâu Bệ hạ quả đó nhà hạ thần không có, hôm qua quan Viên Giám cho, xin Bệ hạ lượng thương.
Cho gọi Viên Giám vua hỏi:
- Viên Giám trong vườn của ta có những thứ quả ngon lành như thế, sao không đem dâng ta lại đem cho kẻ khác?
Đáp: - Tâu Bệ hạ quả này trong vườn không có trồng, hôm qua hạ thần ra giếng thấy nổi trên mặt nước, xin Bệ hạ thương xét.
Nhà vua nói: - Từ ngày mai trở đi ngày nào ngươi cũng phải đem quả này dâng cho ta, nếu không thì ngươi bị tử hình.
Viên Giám nghe xong chết điếng người, mắt xanh lè, run sợ toát mồ hôi lễ tạ, trở về vườn, tiu nghĩu một mình, sầu khổ một mình! Không biết kêu ai cho mình thoát được cái oan ức ấy? Anh òa lên khóc, đương khóc có người tới hỏi:
- Anh có việc chi lo sợ hãi hùng như vậy? Anh nói cho tôi biết, nếu có thể giúp được tôi sẽ giúp anh!
Đáp: - Thưa bác, tôi là một người coi vườn cho nhà vua, chịu trách nhiệm trông coi vườn quả và hàng ngày dâng quả cho nhà vua dùng. Hôm qua tôi bắt được một quả nổi trên mặt giếng, vì thấy quả lạ, quý nên tôi không ăn, đem biếu quan Môn Giám, sau quả đó đưa tới vua; vua ăn thấy ngon lành, giờ đây bắt tôi ngày nào cũng phải dâng, nếu không dâng thì bị tử hình, tôi không biết tìm đâu ra được nên tôi khóc.
- Thôi anh khỏi lo nữa! Nhà tôi có rất nhiều, tôi sẽ cho anh một mâm dâng vua.
Nói xong từ biệt ra về. Viên Giám vui mừng an lòng đã có người cứu mình. Chính người này là con Rồng hóa hiện ra thân người để hỏi thử chơi đó thôi.
Một lát anh đã đội lên một mâm đầy quả ngon lạ dưới Long cung, thuần những quả trên thế gian không có, trao cho Viên Giám và dặn rằng:
- Khi anh dâng mâm quả này lên vua thì anh nói rằng: Tôi với nhà vua vốn là bạn thân với nhau, đời trước ở dòng Phạm chí, cùng nhau thọ pháp "Bát quan trai", mỗi người có một bổn nguyện: Nhà vua tu hành giữ giới hoàn toàn được làm nhân vương, tôi không giữ được toàn, nên phải đọa sinh vào loài Rồng, chịu nhiều cực khổ, thân thể xấu xa. Giờ đây tôi muốn tu theo Trai pháp, để cầu bỏ thân này sinh về cõi trời. Vậy nhà vua tìm hộ cho tôi bài văn "Bát quan trai" ấy để tôi tu tập, nếu trái lời tôi, thì tôi sẽ lật đổ nước của nhà vua, biến tất cả thành biển cả.
Viên Giám mừng rỡ, hai tay cầm lấy mâm quả trịnh trọng cảm ơn rồi dâng mâm quả ấy lên vua và trình bày những lời của Rồng dặn cho vua nghe.
Nhà vua nghe xong, trong tâm thổn thức không yên, trống ngực đập liên hồi, vẻ mặt mất vui tươi! Tại sao thế? Là vì thời đó không có kinh của Phật. Nhà vua đêm ngày âm thầm lo nghĩ cho chính mình và tánh mạng thần dân cả nước, nhưng không tìm được một phương cách gì để giải quyết. Trong lúc đương ngồi suy nghĩ, thì thấy một ông quan Đại thần đi vào, ông này là một người quan trọng nhất thời đó. Nhà vua liền đem câu chuyện Rồng đòi xin văn "Bát quan trai", nói cho ông nghe và nhờ ông tìm hộ.
Ông thưa rằng: - Tâu Bệ hạ! Đời này không có Phật pháp, thì không thể tìm đâu ra được.
Nhà vua nói: - Việc này khanh phải chịu khó tìm cho bằng được, nếu không tìm được thì khanh chết, ta cũng chết, cho đến toàn quốc cũng sẽ chết, vậy việc này ta giao cho khanh phải chịu trọng trách!
Theo lời vua truyền xong, ông bái tạ ra về. Ông là người rất có hiếu với cha già, mỗi khi ông đi đâu về, ông cũng làm ra vẻ mặt vui tươi, để cho cha ông yên lòng, mừng con được an lạc! Nhưng ngày hôm đó ông không thể nào làm nét mặt của ông tươi được nữa! Cha ông thấy thế hỏi ông rằng:
- Hôm nay con vào chầu vua có việc gì bất trắc mà lo buồn như vậy, nói cho cha biết với!
Đáp: - Thưa cha! Hôm nay nhà vua truyền cho con phải tìm bài văn "Bát quan trai" của Phật giáo, nếu không tìm được thì nguy cả một nước nên con lo quá! Vì thế con không thể nào gượng sầu làm vui được!
Người cha nói: - Con ạ! Cái cột nhà ta, thường thường cha nhìn thấy có ánh hào quang hiện lên, con bảo người phá ra xem trong đó có vật gì?
Nghe lời người cha nói, ông sai gia nhân lấy cây cột khác thay vào và bổ cây cột cũ thấy được hai quyển Kinh: Một quyển nhan đề là "Thập Nhị Nhân Duyên", một quyển nhan đề là "Văn Bát Quan Trai". Thấy thế, ông vui mừng quá! Vội đem dâng vua, nhà vua cũng hoan hỷ cảm ơn, sai người chép lấy một quyển để lại, còn một quyển cho Viên Giám biếu Rồng. Rồng được Kinh cũng rất hài lòng với nguyện ước! Trở về đem rất nhiều bảo vật dưới Long cung tạ ơn nhà vua.
Từ đó Rồng chuyên tu Trai giới, lúc chết được sinh lên trời, nhà vua cũng chăm tu trai giới, sau khi mạng chết cũng được sinh lên trời, hai người này cùng ở với nhau một nơi. Nói tới đây Phật lại nhắc cho A Nan biết rằng:
Này A Nan! Hai người trời đó, chính là hai người dòng Phạm chí thụ giới "Bát quan trai" thuở xưa ấy, hôm qua tới đây nghe ta thuyết pháp chứng quả Tu Đà Hoàn cắt đứt ba đường ác, là địa ngục, ngạ quỉ và súc sinh, đời đời thường được sinh trong cõi trời, cõi người. Từ đây trở đi hai người này sẽ được đạo Niết Bàn.
Phật thuyết nhân duyên của hai người xong, tất cả trong đại hội ai ai cũng vui mừng! Kính tin phúc tu của Bát quan trai giới, đều hoan hỷ phụng hành lễ tạ lui ra.


SAU ĐÂY XIN DẪN GIẢI VỀf
BÁT QUAN TRAI GIỚI

Trong Phật Học Danh Số nói: Bát giới trai là 8 giới của Cư sĩ tại gia. Những ngày giữ giới này phải ăn chay và không ăn quá ngọ giống như các vị xuất gia. Vì có liên quan giữa sự giữ giới và Trai pháp, nên có tên Bát giới trai, cũng gọi Bát quan giới trai, hay Bát quan trai giới, Bát chi trai v.v…
Bát công đức là tám công đức của người giữ Bát quan trai giới. Bát quan trai giới và Tám công đức bao gồm như sau:
Bát quan trai giới: 1. Chẳng sát sanh, 2. Chẳng trộm cướp, 3. Chẳng dâm dục, 4. Chẳng nói dối, 5. Chẳng uống rượu, 6. Chẳng trang sức, 7. Chẳng nằm giường cao, nghe ca hát, 8. Chẳng ăn sái thời.
Người Thiện nam Tín nữ trong sạch giữ Bát quan trai giới sẽ hưởng được tám công đức tối thắng.
Tám công đức: 1. Chẳng đọa Địa ngục, 2. Chẳng đọa Ngạ quỉ, 3. Chẳng đọa Súc sanh, 4. Chẳng đoạ A Tu La, 5. Thường sanh trong cõi Người, chánh kiến xuất gia, đắc đạo Niết Bàn, 6. Hoặc sanh lên cõi Trời, 7. Thường sanh trong cõi Phạm thiên, 8. Gặp Phật ra đời xin chuyển pháp luân được đạo quả Chánh Đẳng Chánh Giác.
Người thọ Bát quan trai, người nam gọi là tịnh hạnh Ưu Bà Tắc, người nữ gọi là tịnh hạnh Ưu Bà Di. Vì trọn một ngày một đêm, tình nguyện lìa dục, giữ mình thanh tịnh, tu hạnh xuất thế nên gọi là tịnh hạnh. Cũng gọi là thanh tín nam, thanh tín nữ, vì lòng trong sạch phụng trì Bát quan trai giới nên gọi là thanh. Tín là do lòng tin đối với giáo pháp của đức Như Lai, theo như thuyết mà tu hành, vì vậy mà có tên thanh tín nam, thanh tín nữ vậy.
Từ Điển Phật Học Huệ Quang: Hình thức đồng nghĩa hay tên gọi khác nhau của một từ: Trưởng dưỡng luật nghi, Cận trú luật nghi, Bát giới, Bát chi trai, Bát phần trai giới, Bát giới trai, Bát trai giới, Bát cấm, Bát sở ưng ly.
Học xứ tạm thời xuất gia do Phật chế định cho các đệ tử tại gia, Người thụ phải tạm rời gia đình một ngày một đêm đến ở trong Tăng đoàn, để học tập cách sinh hoạt của người xuất gia.
Bát nghĩa là 8. Quan nghĩa là đóng. Giới có tác dụng ngăn việc quấy, ngừa điều ác. Giữ tám giới, có thể ngăn hành động ác, dừng ba nghiệp thân, khẩu, ý; lại có thể đóng bít cửa ác đạo.
Bát quan trai giới là tám pháp trai giới: 1. Không sát sanh, 2. Không trộm cắp, 3. Không dâm dục, 4. Không vọng ngữ, 5. Không uống rượu, 6. Không dùng hương hoa trang sức nơi thân, không xem nghe ca múa, 7. Không ngồi giường rộng cao đẹp, 8. Không ăn phi thời.
Trong tám giới là bảy phần trước là giới, một phần sau không ăn phi thời là trai, hợp lại gọi là Bát quan trai giới. Tám pháp này Đức Phật chế định mỗi nữa tháng giữ sáu ngày trai, tức mỗi tháng vào ngày 8, 14, 15, 23, 29, 30 (tính theo lịch trung quốc tháng thiếu có thể đổi lại ngày 28 và 29).
Phật giáo tuy có đệ tử xuất gia và tại gia, nhưng Phật pháp lấy giải thoát xuất thế làm mục đích, lại cho việc xuất gia là hơn hết. Thọ trì Bát quan trai giới, khiến người tại gia học Phật, huân tập nuôi lớn thiện căn xuất thế, nên gọi là trưởng dưỡng luật nghi. Lại, nhân thọ giới này một ngày một đêm xa lìa nhà ở, sống gần Tăng già hoặc A La Hán, nên gọi là cận trụ luật nghi.
Lại, người thọ Bát quan trai giới, nhân một ngày đêm giữ giới không dâm, được gọi là tịnh hạnh Ưu Bà Tắc, hay tịnh hạnh Ưu Bà Di.

Phần trước là thay lời giải thích của tựa pháp Bát quan trai giới, phần sau này là chánh văn và trích dẫn trong Kinh, Luật, Luận có liên quan đến mỗi giới.

LỜI KHUYÊN

Trong Kinh DI GIÁO Đức Phật dạy: “Sau khi Phật diệt độ, chúng đệ tử phải tôn kính giới luật, giới luật chính là Thầy của mọi người”. Do có giới mà biết tội , có biết tội mới có lòng sợ tội, mà không dám phạm điều ác. Nếu không có lòng sợ tội thì tâm lành khó sanh. Vì thế trong Kinh PHÁP CÚ có lời dạy: “Chớ khinh thường lỗi nhỏ mà cho là không họa hại, phải biết giọt nước rỉ dầu nhỏ nhưng rồi lần đầy cả chun lớn, tạo tội trong giây phút, mà phải chịu khổ trong nhiều đời, một phen mất thân người thời muôn kiếp khó được lại. Tuổi trẻ không dừng mau như ngựa chạy, mạng người vô thường khác nào nước dốc, ngày nay dầu còn, song khó đảm bảo được ngày mai, nên phải nhất tâm tránh tất cả điều dữ, gắng tu hạnh lành, nghiêm trì giới luật, nếu lỡ sái phạm phải gấp phát lồ sám trừ tội trước, hối cải tương lai, mỗi nửa tháng thanh tịnh chí thành tụng luật.


CHÁNH VĂN & TRÍCH DẪN

GIỚI THỨ NHỨT
KHÔNG ĐƯỢC SÁT SANH

Trên đến Chư Phật Thánh nhân, Sư Tăng cha mẹ. Dưới đến loài côn trùng nhỏ nhít bò bay cựa động, hể là có mạng chẳng được cố giết, hoặc tự mình giết, hoặc bảo người giết, hoặc thấy người khác giết mà đồng ý vui theo v.v…Trong Đại Luật có nói rộng vì văn nhiều ở đây không chép hết.
Trong Kinh dạy: Mùa đông sanh rận bắt bỏ trong óng tre, dùng bông gòn úm lấy, vật mồ hôi cho ăn, vì sợ nó đói lạnh mà chết. Cho đến các việc lượt nước, che đèn, chẳng nuôi mèo chồn v.v…đều là đạo Từ Bi vậy. Loài nhỏ còn như vậy, cho đến các vật lớn nên biết. Người đời nay không thể làm được việc như thế, mà lại còn thêm giết hại hay sao? Cho nên trong Kinh dạy: “Ban ơn giúp ngặt khiến cho nó được an, nếu thấy người giết phải khởi lòng Từ bi, tìm cách cứu vớt, hoặc niệm Phật cầu nguyện để cứu độ cho nó”.
Ôi! Há chẳng răn chừa ư?

Kinh PHÁP CÚ 119, 120 nói:
Mọi người sợ hình phạt,
Mọi người sợ tử vong,
Lấy mình làm thí dụ,
Không giết, không bảo giết.

Mọi người sợ hình phạt,
Mọi người mong sống còn,
Lấy mình làm thí dụ,
Không giết, không bảo giết.

Nhắc lại thời kỳ Phật còn tại thế, có hai vị Tỳ Kheo, đồng đến ra mắt Đức Thế Tôn, giữa đường quá khát nước, thấy ao nước có trùng. Ông lớn giữ giới không uống mà chết. Ông nhỏ uống no rồi đến ra mắt Đức Thế Tôn. Ngài quở rằng: “Ngươi là người ngu si, ông kia, vì có tâm giữ giới, được sanh cõi lành trước thấy Ta rồi. Còn ngươi tuy đứng gần Ta, nhưng cách Ta ngàn dặm”.
Kinh TẠP BỬU TẠNG dạy: “Xưa có một vị La Hán nuôi một thầy Sa Di, biết Sa Di bảy ngày nữa là mạng chung, cho Sa Di về nhà, Sa Di đi giữa đường thấy bầy kiến bị trôi theo dòng nước, mạng hầu muốn thác. Sa Di sanh tâm “Từ Bi” cỡi áo đựng đất đắp nước, vớt kiến lên để chỗ cao ráo. Bảy ngày mãn, trở về thầy, thầy lấy làm lạ, liền nhập định, dùng phép Thiên nhãn xem, biết Sa Di không phước chi được sống, chỉ nhờ nhơn duyên cứu bầy kiến kia thôi, bảy ngày đã không chết, mạng lại sống dai”.
Như Kinh ĐỘ CẨU nói: “Xưa có thầy Sa Môn trì bình khất thực, thấy một gã đồ nhi ôm một con chó đem về muốn giết. Sa Môn bảo: Tội sát sanh rất là bất thiện, ta nguyện đưa cơm trong bát ta, đổi con chó này, cho mạng nó được sống, thì chú được phước vô lượng.
Như vậy vị Sa Môn năn nỉ hoài, mà gã đồ nhi bất khứng lời nói của vị Sa Môn. Túng thế, vị Sa Môn trút hết cơm trong bát ra, cho con chó ăn rồi lấy tay thoa rờ và chú nguyện rơi lụy mà bảo rằng: Đời trước ngươi tạo tội chi, mà nay mắc báo làm thân chó, vừa đói khát, lại còn bị người ta giết mà ăn, không được tự tại. Vậy ta chú nguyện cho ngươi, đời đời tội diệt phước sanh, thoát kiếp cẩu thân, được sanh làm người và được gặp ngôi Tam Bảo. con chó được ăn cơm của vị Sa Môn, liền sanh tâm lành, vui mừng khắp khởi, biết mình đã Quy Y. Nhắc lại kẻ đồ nhi đem chó về giết ăn, chó kia mạng thác, đầu thai sanh trong nhà ông đại Trưởng giả, được làm thân trai. Bấy giờ vị Sa Môn có dịp đi khất thực, đi ngang qua nhà của Trưởng giả, cậu con thấy Sa Môn vui mừng lễ dưới chân và cúng dường đủ trăm món, rồi xin theo hầu vị Sa Môn để xuất gia lần lần tu tập thông hiểu nghĩa Kinh và chứng đặng “Tam Muội” đến bậc bất thoái chuyển, rồi khai hóa cho tất cả người đời cũng được phát tâm Bồ Đề tu hành theo đạo Phật như cậu. Ôi! Loài súc sanh còn được đắc đạo, huống loài người đâu chẳng chứng quả!”
Kinh LUÂN CHUYỂN NGŨ ĐẠO nói: “Làm người ưa sát sanh đời sau mắc quả báo làm con “phù du” chấp choán trên mặt nước, mai sanh chiều chết”.
Trong ĐẠI LUẬN Phật nói: Người sát sanh có mười tội:
1. Thường chứa độc trong tâm, đời đời không dứt.
2. Người đời chán ghét, mắt chẳng muốn ngó.
3. Tâm thường niệm ác và nghĩ những việc ác.
4. người đời thấy sợ như sợ rắn hổ (cọp).
5. Khi ngủ giựt mình, lúc thức tâm cũng chẳng yên.
6. Thường thấy chiêm bao dữ.
7. Khi mạng chung chết một cách gớm ghê.
8. Gây nghiệp nhơn chết yểu về đời sau.
9. Thân hoại mạng chung đọa vào địa ngục.
10. Khi hết tội trong địa ngục, được làm người, đâu khỏi phải chịu mạng chết non, như trong Kinh đã nói. Há chẳng răn dè lắm ư!

GIỚI THỨ HAI
KHÔNG ĐƯỢC TRỘM CƯỚP

Từ vật quý như vàng bạc v.v…nhẫn đến một cây kim, một cọng cỏ của người chẳng được không cho mà lấy, hoặc tự mình lấy, hoặc bảo người lấy, hoặc thấy người khác lấy mà đồng ý vui theo, hoặc là vật của thường trụ, hoặc là vật của tín thí, hoặc là vật của chúng tăng, hoặc là vật của quan, của dân, của tất cả…hoặc là giựt lấy, hoặc là lén lấy, hoặc là gạt lấy, cho đến trốn thuế dối đò v.v… đều là trộm cướp. Trong Kinh chép: Một ông Sa Di ăn trộm của thường trụ bảy trái cây, một ông Sa Di ăn trộm của chúng Tăng vài miếng bánh, một ông Sa Di ăn trộm của chúng Tăng chút ít đường phèn, đều bị đọa vào Địa ngục, cho nên trong Kinh dạy: Thà chịu chặt tay, quyết không lấy của phi nghĩa.
Ôi! Há chẳng răn chừa ư!

Kinh TAM MUỘI nói: “Tội người trộm lấy vật của chúng Tăng, nặng hơn tội người giết tám vạn bốn ngàn cha mẹ”.
Trong ĐẠI LUẬT nói: “Bằng trộm những vật trong Tháp Phật và vật cúng trong chùa, đều mắc tội nặng, còn trộm quyển Kinh người khác, tính giấy tiền giá mực mà phạm tội nặng và nhẹ như trong luật đã nói”.
LƯƠNG HOÀNG SÁM PHÁP nói: Thà ăn thịt mình, quyết không lạm dụng của Tam Bảo. Chuốc lấy khổ báo to, chịu tội một đời hoặc nhiều đời, bởi mình lạm dụng của Tam Bảo vậy. Lại nữa, của Phật, của Pháp và của Tăng, phần nào đều thuộc về phần ấy, không được lấy dùng lộn xộn. Nếu dùng sai phép, sẽ tính giá phạt tội, còn vật của chúng Tăng hoặc thường trụ cũng thế, cũng có phần sở thuộc, không phép dùng lộn xộn”. Các điều như trên trong “Đại Luật” có nói rõ, văn nhiều đây chẳng chép.
Kinh A HÀM nói: Bấy giờ Tôn giả Mục Kiền Liên đem ba câu chuyện thuật lại cho Tỳ Kheo Lặc Xoa Na nghe như vầy: 1. “Tôi đi giữa đường thấy một chúng sanh thân lớn có hoàn sắt nóng từ trên thân lúc cách lúc nhập, ở giữa hư không, vừa đi vừa khóc, kể lể kêu rêu, nhứt đau khó chịu, mắc khổ như thế kể sao cho xiết?” 2. “Lại thấy một chúng sanh thứ hai, lưỡi le thiệt dài, trên lưỡi có con dao lớn cháy đỏ, chặt đứt cuống lưỡi kia, ở giữa hư không vừa đi vừa khóc kể lể như trên?” 3. “Lại thấy một chúng sanh thứ ba, có hai bánh xe bằng sắt, kẹp hai bên hông, đốt cháy giáp vòng rồi đốt nơi thân rồi cũng vừa đi vừa khóc, như hai chúng sanh trước?” Ngài Tỳ Kheo Lặc Xoa Na nghe thuật câu chuyện, lấy làm quái lạ, liền đến bạch Phật.
Đức Phật nói cùng các Tỳ Kheo rằng: “Ta cũng thấy chúng sanh như thế, nhưng không dám nói, vì sợ kẻ ngu si bất tín lời Như Lai mà phải chịu khổ nhiều đời”. Này các Tỳ Kheo: “Chúng sanh bị hoàn sắt nóng kia, từ trên thân lúc cách lúc nhập đó, là thuở đời quá khứ ở chỗ Đức Phật Ca Diếp xuất gia làm Sa Di, thay phiên giữ vườn trái cây cho chúng Tăng, hái trộm bảy trái cây đem dâng cho thầy, vì tội duyên ấy đọa trong “Địa ngục” chịu biết bao nỗi khổ. Vì tội “Địa ngục” vẫn còn, nay đặng thân này tiếp tục chịu cái khổ ấy”. – “Chúng sanh bị con dao nóng đỏ chặt đứt lưỡi, cũng hồi thời kỳ quá khứ, trong pháp Phật Ca Diếp xuất gia làm Sa Di, lấy dao chặt đường phèn cúng cho chúng Tăng, đường dính trong lưỡi dao, trộm lấy ăn, vì duyên tội ấy, vào trong “Địa ngục” chịu biết bao nỗi khổ, tội ấy vẫn còn, nên nay tiếp tục chịu cái khổ như vậy”! – “Chúng sanh có hai bánh xe bằng sắt kẹp hai bên nách đó, cũng là thời kỳ Phật Ca Diếp ở trong đó xuất gia làm Sa Di, sai đem bánh ngọt cúng dường chúng Tăng, trộm lấy hai cái kẹp hai bên nách; vì duyên tội ấy, đọa trong “Địa ngục” chịu biết bao nỗi khổ như vậy; tội địa ngục hãy còn, nên nay tiếp tục chịu cái khổ như vậy”.
Người xưa có câu: “Nhơn phi thiện bất giao, vật phi nghĩa bất thủ”. Nghĩa là: “Người không tốt không làm bạn, của phi nghĩa không lấy”. Lại có câu: “Phi tài hại kỷ, ác ngữ thương nhơn”. Nghĩa là: “Của phi tài hại mình, lời nói ác hại người”.
Kinh LỤC ĐỘ TẬP nói : “Hồi đời trước Đức Phật còn làm người nghèo. Ngài nói rằng: “Ta thà giữ đạo nghèo hèn mà chết, chớ chẳng làm người vô đạo, giàu sang mà sống”.
Kinh TĂNG NHỨT A HÀM nói: Phật dạy các Tỳ Kheo: “Nếu ai trộm cắp vật của người ta, bị người chủ bắt được, giao cho quan trị tội, cầm giam trong tù ngục, hoặc chặt tay, chân, lắt tai, mũi, nhẫn đến chặt đầu, tên bắn, đủ cách hành hạ rồi chết, sau khi mạng chung, sanh trong địa ngục lửa dữ thiêu thân, nước đồng sôi rót vào miệng, hoặc trụn chảo dầu, quăng lò lửa, gươm dao đâm lụi, hấp nóng, bỏ chỗ dơ, cối xoay nghiền nát, cối giả đâm nhừ, chua chát nhứt đau đủ cách, nào hay kể xiết, cả trăm nghìn năm,không ngày ra khỏi”.
Tội “Địa ngục” vừa mãn, kế sanh trong loại súc sanh làm voi, ngựa, trâu, dê, lạc đà, lừa và chó v.v… Trải trăm nghìn năm, ra sức đền bù nợ người, tội “súc sanh” vừa mãn, lại trong loài “ngạ quỉ” đói khát, khổ ngặt không thể nói đủ, trải trăm nghìn năm chịu khổ như thế. Hết đời “ngạ quỉ” mới được làm người, lại mắc hai món quả báo. 1. Nghèo cùng áo chẳng kín thân, cơm không no miệng. 2. Thường bị nước trôi, lửa cháy, hoặc bị vua bắt quan đòi, giặc dữ cướp đoạt” v.v…

GIỚI THỨ BA
KHÔNG ĐƯỢC DÂM DỤC

Hàng tại gia giữ ngũ giới chỉ ngăn việc tà dâm. Hàng xuất gia giữ mười giới đoạn dứt việc dâm dục. Hễ phạm bất luận nam nữ trong đời đều gọi là phá giới. Trong Kinh Lăng Nghiêm có ghi: Cô Bửu Liên Hương Tỳ Kheo Ni riêng làm việc dâm dục, tự nói dâm dục không phải sát sanh, trộm cắp, không có tội báo, bèn từ trong thân phát lửa dữ, hiện thân đọa Vô gián địa ngục.Người đời nhân lòng dục mà giết thân mất nhà. Ta là thích tử xuất tục đâu nên lại phạm ư? Cội gốc sanh tử lòng dục là thứ nhất, cho nên trong Kinh có lời dạy: “Dầu dâm dục mà sống, không bằng trinh khiết mà chết”.
Ôi! Há chẳng răn chừa ư!

Giới này nói đoạn dứt việc dâm dục chỉ cho hàng xuất gia. Người cư sĩ tại gia nếu có thọ bát quan trai giới, trong một ngày một đêm cũng không được sai phạm.

Kinh NIẾT BÀN chép: “Ví như có một con quỉ La sát theo người qua biển, quyết xin cho được trái nổi. Người qua biển đáp: “Thà cho thân mạng, chớ trái nổi chẳng cho”. La sát lại nói: “Không chịu cho hết xin cho phân nửa”. Người kia cũng không chịu. Như vậy lần lựa xin mãi chừng mãi bụi; thế mà người kia cũng chẳng cho. Ông Bồ Tát giữ giới cũng lại như vậy”.
Như Kinh BÁT SƯ nói rằng: “Phật dạy ông Phạm chí mình dâm đàn bà con gái người, hoặc bị người chồng hay người ở gần hay được, bấy giờ mắc hại: Dao gậy gia hình, tay chân đứt gãy, họa lây đến dòng họ, hoặc bị pháp vua bắt giam trong ngục, đánh khảo ghê gớm, thân mình chịu tội, chết vào địa ngục, nằm trên giường sắt, hoặc trên cột đồng, quỉ ngục tốt nổi lửa đốt cháy cả thân. Tội địa ngục hết, phải chịu làm thân súc sanh, hoặc sau được làm người, trong khuê môn dâm loạn, xa Phật trái pháp, chẳng gần thánh hiền, tâm thường lo sợ, nhiều ngặt ít an”.!
Đức Phật lại nói kệ rằng:
Dâm là hạnh bất tịnh,
Hình gầy hồn phách sợ,
Mắc tội ngu dạy ngốc.
Ta vì sợ quá sợ,
Mê lầm mất đạo chánh;
Giảm thọ và chết non.
Chết đọa trong đường ác,
Bỏ nhà thích núi non.
Sở dĩ có câu: “Nhất thiết chúng sanh giai dĩ dâm dục, nhi chứng tánh mạng, thị dã”. Nghĩa là: “Tất cả chúng sanh, đều vì tâm dâm dục, mà có sanh thân mạng này, phải vậy”.
Cho nên trong Kinh LĂNG NGHIÊM nói: “Bằng các thế giới, chúng sanh trong sáu đường, tâm không dâm thì không dính líu theo dòng sanh tử, tâm dâm chẳng trừ thì trần lao không thể nào ra khỏi”. Cho nên phải đoạn trừ máy dâm, thân và tâm đều đoạn, tánh đoạn cũng không, thì quả Phật Bồ Đề mới khá mong cầu”.
Kinh CHÁNH PHÁP NIỆM nói: “Thà ăn trùng rắn độc và uống nước đồng sôi, chớ không phá giới cấm mà ăn đồ ăn của chúng Tăng”.

GIỚI THỨ TƯ
KHÔNG ĐƯỢC VỌNG NGỮ

Vọng ngữ có bốn thứ:
1. Nói dối: Nghĩa là lấy quấy làm phải, lấy phải làm quấy, thấy nói chẳng thấy, chẳng thấy nói thấy, dối láo không thật.
2. Nói thêu dệt: Nghĩa là trao dồi lời đàng tiếng điếm, khúc hay lời tình, dẫn khởi dục nhiễm, thêm lòng buồn thương làm siêu lòng dạ người.
3. Nói thô ác: Nghĩa là thô ác, mắng nhiếc, chửi rủa người.
4. Nói hai lưỡi: Nghĩa là đến người này nói việc của người kia, đến người kia nói việc của người này, làm cho hai người xa lìa ân nghĩa, hờn ghét nhau, đâm chọc cho đấu tranh nhau, nhẫn đến các việc trước khen sau chê, trước mặt phải sau lưng quấy, chứng nhận tội của người, nói bày lỗi của người, đều là một loại vọng ngữ vậy. Hoặc là phàm phu tự nói mình chứng quả Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm v.v… gọi là đại vọng ngữ, tội đó rất nặng. Ngoài ra nói dối vì cứu người bị nạn gấp, phương tiện quyền xảo, Từ Bi lợi tế thì chẳng phạm. Người xưa nói: Cốt yếu sửa mình tự không nói dối làm trước, huống ta là người học đạo xuất gia thế ư? Trong Kinh chép: Một ông Sa Di khinh cười vị Tỳ kheo già đọc Kinh tiếng như chó sủa, mà vị Tỳ Kheo già đó là bậc A La Hán, nhân bảo Sa Di ấy gấp sám hối, chỉ khỏi sa địa ngục, nhưng phải còn đọa làm thân chó năm trăm đời. Trong Kinh Luật Tạng chép: Một em bé chê thầy Tỳ Kheo như quạ đui. Đức Phật huyền ký em bé ấy sẽ làm quạ đui trong nhiều đời. Một câu nói ác còn hại đến thế, nên trong Kinh có lời dạy: “Vả người đời búa ở trong miệng, sở dĩ chém mình là do lời nói ác”.
Ôi! Há chẳng răn chừa ư?

Chú giải trong SA DI THẬP GIỚI: Sở dĩ nói vọng có 8 chuyện:
Không thấy nói thấy
Không đụng chạm nói dụng chạm
Thấy nói không thấy
Đụng chạm, nói không đụng chạm
Không nghe nói nghe
Không biết nói biết
Nghe nói không nghe
Biết nói không biết.
Trong tám chuyện này muốn lấy một chuyện nào, để dối gạt người ta, đều liệt vào trọng tội “vọng ngữ” cả. Bằng mình thấy nghe, đụng chạm, hiểu biết; thì mình nói, tôi thấy, tôi nghe, tôi đụng chạm, tôi hiểu biết. Bằng mình không thấy, nghe, đụng chạm, hiểu biết; thì nói mình không thấy, không nghe, không đụng chạm, không hiểu biết; mới gọi là bốn lời thánh (bốn lời thật). Lời nói, hạnh làm, tuy lành; nhưng không có tâm thật, cũng chẳng phải môn đồ Thánh nhơn vậy.
Xưa ngài Pháp Vân Tú thiền sư quở ông Lỗ Trực rằng: “Ông làm bài ca hay, xúi người khởi tâm dâm, khiến người bỏ lễ nghĩa bỏ phép cấm, tội ấy sẽ bị đọa trong ba đường ác”. Ông Lỗ Trực từ đây không dám làm nữa vậy.
Trong Luận THÀNH THẬT nói: “Lòng lành dạy bảo, tuy họ biệt ly, nhưng mình không mắc tội. Bằng đem lòng ác, xúi người đánh lộn, tức là hai lưỡi, mắc tội rất nặng đọa trong ba đường ác, đời đời mắc quả bà con hung dữ và gia đình bị phá hoại; là vì đời nay ta phá hoại gia đình bà con người mắc phải biệt ly”.
Kinh BÁO ÂN Phật kêu ông A Nan nói: Người sanh trong đời, họa từ miệng mà ra, phải gìn nơi miệng lắm hơn lửa dữ, vì lửa dữ bừng cháy đốt của thế gian, miệng dữ bừng cháy đốt bảy của Thánh .
Kinh LUÂN CHUYỂN NGŨ ĐẠO Phật nói: “Làm người hay truyền cái xấu của người, chết vào địa ngục, nước đồng sôi rót vào miệng, kéo cuống lưỡi ra mắc trâu cày vào đó, sau đọa làm loài chim ác điểu, người nghe tiếng kêu không ai là không ghê sợ, trù rủa cho chết”.
Kinh VỊ TẰNG HỮU nói : “Vọng ngữ có hai: Nhẹ và Nặng. Vì cớ muốn người cúng dường cho nên ngoài hiện hạnh tinh tấn, trong tâm làm việc tà trược, nói vọng với người rằng: Ta đặng cảnh giới “thiền định”! Hoặc nói thấy Phật, thấy Thiên, long, quỉ, thần v.v…gọi Đại vọng ngữ, đọa trong địa ngục A tỳ. Lại có người nói vọng, hay khiến chết người, hoặc trái lời kỳ hẹn, khiến người buồn giận, gọi là vọng ngữ bậc hạ, đọa địa ngục nhỏ”. Còn bao nhiêu việc nói chơi, giỡn cười và như những việc lý đáng dấu, sự đáng cấm, có nói không, không nói có, không phạm.
Xét trong Kinh HIỀN NGU và Kinh BÁO ÂN: “Về thời quá khứ thuở Phật Ca Diếp. Tỳ Kheo tuổi trẻ , thấy một Tỳ Kheo già thường hay tán tụng tiếng tăm ồ ề, ỷ mình tiếng tốt, nói rằng: “Ông này tiếng như chó sủa”. Khi ấy Tỳ Kheo già bảo rằng: “Ngươi biết ta chăng? Ta nay đặng quả A La Hán vậy”. Tuổi trẻ nghe rồi hoảng sợ trách mình, liền ra trước xin sám hối, thầy Tỳ Kheo già liền cho sám hối tội lỗi; song tuy sám hối được tội địa ngục, nhưng do lời nói ác, nên 500 đời thường chịu làm thân chó… khi ấy có năm trăm người buôn, đem một con chó trắng, cùng đi qua nước khác, giữa đường nghĩ ngơi, chó ăn vụn thịt, người buôn chặt bốn chân chó, quăng trong hầm mà đi. Bấy giờ ngài Xá Lợi Phất, dùng Thiên nhãn thông, xa thấy thân chó quay quất nơi kia, đói khát khốn cùng, mạng hầu muốn thác, liền bưng bát cơm bay đến chỗ chó, dùng lòng Từ Bi thí cho nó ăn, mạng sống được mấy ngày, chó ăn rồi vui mừng; ngài Xá Lợi Phất lại vì thuyết pháp cho nghe.
Qua bảy ngày, chó kia thoát kiếp, liền sanh trong nước Xá Vệ nhà Bà La Môn, tên là Quân Đề. Tuổi lên bảy; ngài Xá Lợi Phất giáo hóa cho đi xuất gia, vì nói pháp mầu cho nghe bèn chứng quả A La Hán, đủ cả sáu phép Thần thông ông tự thấy thân trước của ông là chó đói, nhờ ơn thầy Xá Lợi Phất, nay đặng thân người và chứng được đạo quả. Tự nghĩ rằng: Phải trọn đời hầu hạ thầy cần dùng, hằng làm Sa Di chớ không thọ Đại giới”. Bởi vì đời trước ông xuất gia, giữ tịnh giới, nên nay đặng gặp Phật Thích Ca Như Lai và chứng quả A La Hán”. Thế nên đủ biết rằng, nếu không giữ tịnh giới, thì không ngày nào giải thoát vậy.
Như trong ĐẠI LUẬT nói: “Xưa ông Điều Đạt mắng ngài Xá Lợi Phất là “Tỳ Kheo ác dục”, vừa mắng liền huyết nóng trong miệng liền chảy ra, thân đương sống bèn đoạ trong địa ngục lớn”. Đức Phật nhân đó lền nói kệ rằng:
Phù sĩ xử thế
Phủ thị khẩu trung
Sở dĩ trảm thân
Do kỳ ác ngôn.
Nghĩa là:
Luận kẻ ở đời
Búa ở trong miệng
Sở dĩ chặt mình
Do lời nói ác.
Việc đáng chê lại khen, việc đáng khen lại chê, tự mình chuốt lấy sự khổ, quyết không có vui.
Luận TRÌ ĐỊA nói: “Tội vọng ngữ làm cho chúng sanh đoạ trong ba đường ác, bằng sanh trong loài người, mắc hai món quả báo: 1. Hay bị người chê bai, 2. Bị người lường gạt”.
Thế nào nói vọng đoạ ba đường ác? Bởi ta nói vọng không thiệt, khiến người luống sanh tâm sầu thảm, chết chịu khổ trong địa ngục.
Thế nào nói vọng đoạ trong loài súc sanh? Bởi ta nói vọng trái tâm thành kính của người, nên mắc báo đoạ trong loài súc sanh.
Thế nào nói vọng đoạ trong loài ngạ quỉ? Bởi vì ta nói vọng làm cho ai cũng mắc tội tham lam, bỏn sẻn; nên ta mắc báo đoạ trong loài ngạ quỉ.
Vì sao bị người chê bai? Bởi vì ta nói vọng không chắc thiệt, nên mắc báo bị người chê bai.
Vì sao bị người lường gạt? Bởi vì ta nói vọng, dối phỉnh người, nên mắc báo bị người lường gạt.
Ôi! Đã biết lời nói vọng mắc bốn báo lớn như trên. Khá chẳng răn chừa ư!?

GIỚI THỨ NĂM
KHÔNG ĐƯỢC UỐNG RƯỢU

Uống rượu là uống tất cả các thứ rượu làm say người. Bên Tây Vức rượu có nhiều thứ: Mía, nho và cùng trăm hoa đều có thể đặt rượu. Xứ này có rượu nếp đều không nên uống. Trừ khi có bệnh nặng, không rượu thì chẳng lành mạnh, nên bạch chúng rồi mới uống. Không cớ chi một giọt cũng chẳng dính môi, nhẫn đến không được ngửi rượu, không được lấy rượu cho người uống, không được dừng ở quán rượu. Thuở xưa người Nghi Địch đặc rượu. Vua Võ nhân đó mà cấm dứt. Vua Trụ làm ao rượu, nước vì đó mà mất. Người xuất gia giữ giới mà uống rượu, thật là đáng hỗ thẹn lắm.
Thuở xưa có vị Ưu Bà Tắc nhơn phá giới rượu bèn phá các giới khác. Một phen uống rượu, phạm cả 36 lỗi. Thế thì uống rượu chẳng phải lỗi nhỏ vậy. Người ưa uống rượu sau khi chết đoạ vào địa ngục phẩn sôi, đời đời ngu si mất giống trí huệ. Rượu là thuốc độc mê hồn dữ hơn thạch tín cùng rượu lông chim trấm. Vì thế nên trong Kinh dạy: Thà uống nước đồng sôi, cẩn thận chớ phạm giới rượu.
Ôi! Há chẳng răn chừa ư?

Đức Phật nói: “Bằng ai nương Ta làm Thầy, thì đừng có uống rượu và đừng cho người uống, đừng chứa để, cho đến không được lấy ngọn cỏ nhún rượu rồi bỏ vào miệng”.
Trong luận BÀ SA nói: Xưa có ông “cận sự” sẳn tánh nhơn hiền, thọ trì năm giới, chuyên ròng không phạm. Sau đó trong khi có vịêc đi xa về nhà, giữa đường khát nước, ghé lại nhà người, nhà người mắc đi phó hội (đi vắng) ông ta bị khát nước quá ngặt, thấy chun đựng rượu, tưởng nước uống nhầm bị say. Mắc phải phạm “giới rượu”. Khi đó có gà hàng xóm, chạy lại nhà kia, ông trộm giết mà ăn, lại phạm “giới trộm” và giới sát là hai giới. Gái xóm vào nhà kiếm gà, ông cưỡng bức giao thông, lại phạm “giới dâm”. Nhà xóm đi thưa quan, ông cải chối không chịu, lại phạm giới “vọng ngữ”. Cho nên có câu: “Bèn gồm các giới đều phá”.
Ba mươi sau lỗi là gì? Kinh THIỆN ÁC SỞ KHỞI nói: 1. Của cải hao mất, 2. Hiện đời nhiều tật bệnh, 3. Nhơn khi say đánh lộn với người, 4. Thêm nhiều sát hại, 5. Tăng thêm lòng giận giũi, 6. Nhiều việc không toại ý, 7. Trí tuệ lần kém, 8. Phước đức không thêm, 9. Phước đức càng giảm, 10. bày lộ chuyện kín đáo, 11. Sự nghiệp không thành, 12. Thêm việc ưu khổ, 13. Các căn mê muội, 14. Nhơ nhuốt cha mẹ, 15. Không kính bậc Sa Môn, 16. không tin người tu phạm hạnh, 17. Không kính Phật, 18. Không kính Pháp và Tăng, 19. Gần bạn ác, 20. Xa bạn lành, 21. Bỏ việc uống ăn, 22. Trần truồng thân thể, 23. Việc dâm dục lẫy lừng, 24. Nhiều người không ưa, 25. Cười lả lướt, 26. Cha mẹ không mừng, 27. Bà con ghét bỏ, 28. Hay làm việc phi pháp, 29. Xa lìa chánh pháp, 30. Không kính người hiền thiện, 31. Trái phạm nhiều điều tội lỗi, 32. Xa lìa đạo Niết Bàn, 33. Điên cuồng khù khờ, 34. Tán loạn thân tâm, 35. Buông lung lòng ác, 36. Thân hoại, mạng thác, đoạ trong địa ngục lớn chịu khổ không cùng.
Ba mươi sáu việc lỗi đây, nhơn phá giới rượu mà đủ cả. Cho nên nói câu: “Nhất ẩm bị diên”. (Một phen uống rượu đủ cả vậy). Lỗi có 36 lỗi, cho nên nói: “Quá phi tiểu hỉ”. (lỗi chẳng phải nhỏ vậy).
Kinh LUÂN CHUYỂN NGŨ ĐẠO nói: “ Làm người ưa uống rượu say, chết vào trong địa ngục “phất phỉ”, rồi đoạ trong loài thú tinh tinh (đười ươi), sau sanh làm người ngu si, không biết chi cả” (như người say mê trong khi uống rượu).
Kinh GIÁO HOÁ ĐỊA NGỤC nói: Ông Tín Tướng Bồ Tát bạch Phật rằng: “Thưa đức Thế Tôn! Lại có chúng sanh gây những tội gì, hoặc điên, hoặc cuồng, hoặc ngây, hoặc dại, không biết chi là tốt là xấu”?
Bấy giờ Phật dạy ông Tín Tướng Bồ Tát rằng: “Này thiện nam tử, chúng sanh ấy bởi đời trước bị uống rượu say mê phạm 36 lỗi, nên nay mắc báo làm thân ngây dại, như người say rượu không biết kẻ lớn người nhỏ, không kể tốt xấu, cho nên mắc báo này, song thiện ác không sai, hễ có nhơn thì ắt có quả, vì nhơn tham uống nên quả địa ngục “phất phỉ”. Vì nhơn say mê nên mắc quả mất Trí tuệ”.
Bộ TÒNG THUYẾT nói: “Tâm độc chi lắm hơn chất rượu”. Như nói: Không nở chém anh, lẽ nào chém cha. Nhưng uống rượu say rồi, giết cả anh, chém cả cha, là đây vậy.
Kinh TÁT CHA NI CÀNG TỬ có nói: “Rượu là gốc buông lung, muốn khỏi đường ác, đừng uống, thà bỏ trăm nghìn thân, chớ huỷ phạm giới pháp. Thà khiến thân héo khô, trọn không uống rượu này; dầu cho tội huỷ giới mạng sống đủ trăm năm, chẳng bằng giữ giới cấm, tức thời thân tiêu diệt”.

GIỚI THỨ SÁU
KHÔNG ĐƯỢC ĐEO BÔNG XOA HƯƠNG
TRANG ĐIỂM NƠI THÂN

Người xứ Tây Vức kết hoa thành tràng để trang điểm nơi đầu nơi cổ. Xứ ta thì lấy lụa nhiểu, kim cương, ngọc ngà, châu báu v.v… chế làm đồ trang sức. Người xuất gia không được đeo mang những thứ ấy, cũng không được dùng nước hoa, son phấn v.v… thoa ướp vào mình. Phật dạy: Phàm ba y và đồ mặc đắp của người xuất gia, phải dùng vải gai tơ xấu, không được dùng lông thú hay tơ tầm vì tổn lòng Từ Bi, lại thêm hại vật. Trừ người quá già yếu, cần có tơ lụa mới ấm thì được tạm dùng. Nhà hạ vua Võ trọn đời mặc áo xấu. Ông Công Tôn luôn đắp mền vải, bậc vua quan đáng dùng đồ tốt quý còn không dùng. Người tu sĩ đâu nên xài đồ hoa mỹ ư? Người xuất gia mặc đồ hoại sắc, áo phấn tảo che thân mới hợp lệ. Nhà Đường ngài Huệ Hưu pháp sư trọn ba mươi năm chỉ mang một đôi giày. Hàng phàm phu chúng ta phải nên xử xét.
Ôi! Há chẳng răn chừa ư?

Kinh ĐẠI BỒ TÁT TẠNG nói: “Nếu có người nào đắm vị tràng hoa hương xoa, tức là: Đắm vị tràng hoa sắc nóng; hay là đắm vị nhơ nhớp thoa vào trong thân. Thuở xưa có vị thầy Tỳ Kheo ở bên ao sen, đi kinh hành, nghe hương của hoa sen mũi ưa, tâm đắm. Thần giữ ao nói: Tỳ Kheo cớ sao Ngài bỏ ngồi thiền, mà trộm vị hương ta? Khi đó có một người, cũng vào trong ao, bẻ hoa và nhổ ngó sen mà đi. Tỳ Kheo nói: “Ta đi kinh hành quở ta là trộm hương?” Thần đáp: “Đứa ác trong đời, tội nhơ đầy đầu, ta không nói đến. Ngài là người tu hạnh tốt, mà đắm hương đấy, hư việc tốt của Ngài, cho nên quở Ngài. Ví như áo trắng, có một điểm đen, ai cũng thấy hết, người ác ví như áo đen, dầu có điểm đen người đều chẳng thấy, ai cần hỏi đến”.
Ôi! Như Kinh nói: Ngửi hoa còn bị thần trách có điểm xấu, huống mũi ngửi, thân thoa nhơ đức, khá chẳng răn ư!?

GIỚI THỨ BẢY
KHÔNG ĐƯỢC CA MÚA ĐỜN HÁT
HAY CỐ ĐI XEM NGHE

Ca là miệng ca ngâm, múa là thân nhảy múa, hát xướng là các loại đờn cầm, đờn sắt, ống tiêu, ống sáo v.v… không được tự mình làm và cố đi xem nghe. Xưa có ông Tiên bay trên không, nghe tiếng trầm bổng của cung nữ ca, móng tâm ưa thích, liền mất Thần túc thông rớt xuống đất. Nghe xem còn hại đến thế, huống tự mình làm. Người đời nay nghe trong Kinh có câu: “Tỳ bà náo bạt”. Bèn tha hồ học âm nhạc, không hiểu Kinh Pháp Hoa nói là hàng tại gia trổi nhạc để cúng dường chư Phật đâu phải là chuyện vui chơi. Những nhà ứng phú theo tập tục, hoặc có thể làm âm nhạc, chúng ta đã vì xuất ly sanh tử, xả tục xuất gia sao không lo việc chánh tu học nội điển, lại đi tập học âm nhạc ư? Cho đến các thứ trò chơi như: Đánh cờ, đá bóng, đánh bài, đánh bạc v.v… đều là những việc làm loạn đạo tâm thêm lớn tội lỗi.
Ôi! Há chẳng răn chừa ư?

Trong ĐẠI LUẬT nói: “Âm thanh, sắc tướng giả tạm không phải vật còn hoài liền nghe liền diệt. Thế mà đứa ngu si chẳng hiểu cái thinh tướng vô thường biến mất. Cho nên đối với âm thinh quấy sanh tâm ưa thích, đến nỗi tiếng nói qua rồi, còn để tâm mê đắm. Những người có trí biết kia sanh diệt, trước chẳng chờ sau, sau chẳng chờ trước, thì dầu có tướng cũng như không tướng. Vậy quan sát được như thế, thời mới khỏi đắm mê, những người như thế, dù âm nhạc chư Thiên, cũng chẳng loạn cho họ được, huống chi tiếng của nhơn loại. Như đây hết thảy các món nhân duyên đều là đức Phật quở tội lỗi của những người ưa đắm thinh trần. Kìa, như đức Đại Ca Diếp nghe trời Thiên vương khải đờn cầm, còn đứng dậy múa men không thể tự yên; huống chi chúng phàm phu, há chẳng răn dè cho lắm ư!?

GIỚI THỨ TÁM
KHÔNG NÊN NGỒI GIƯỜNG GHẾ RỘNG CAO ĐẸP

Phật dạy: Giường nằm không được cao quá tám ngón tay của Như Lai. Nếu cao quá thì phạm cho đến những giường ngà ngọc sơn vẽ, chạm khắc và mền nệm bằng lụa nhiễu càng không nên dùng. Người xưa trải cỏ làm toà ngồi, đêm ngủ dưới gốc cây. Chúng ta có giường chõng cũng đã hơn, vậy sao ham rộng lớn mà buôn lung vóc huyễn.
Tổ Hiếp Tôn Giả cả đời không đặt lưng xuống chiếu. Ngài Cao Phong Diệu thiền sư lập nguyện ba năm không nương dựa gường chõng. Ngài Ngộ Đạt pháp sư thọ toà trầm hương còn tổn phước mà chịu quả báo.
Ôi! Há chẳng răn chừa ư?

Chú giải SA DI THẬP GIỚI nói: Song giường, mùng, mền và toạ cụ đây cũng là một món trong bốn món Thánh chủng, nên gọi là “ngoạ cụ tri túc thánh chủng”. Thế nào là “tri túc Thánh chủng”? Đồ ngồi và nằm, biết vừa đủ chớ quá cao sang, để tấn tu đạo nghiệp, hầu mong chứng quả Phật Bồ Đề, nên gọi “tri túc Thánh chủng”. Thế nào gọi là không “tri túc Thánh chủng”? Nếu không tri túc như trên, thời đạo quả vô phần và “Thánh chủng” cũng mất nữa”. Nói tóm lại như ngài “Ngộ Đạt quốc sư” chỗ kiến giải hơn người, ngôi thứ biết bao, bởi không tri túc một niệm móng tâm, đức tổn hoạ đến. Bọn ta là chi, chẳng lấy đó để răn lớp sau ư?

GIỚI THỨ CHÍN
KHÔNG ĐƯỢC ĂN PHI THỜI (TRAI PHÁP)

Phi thời là quá mặt trời đứng bóng, không phải giờ ăn của chư Tăng. Chư Thiên ăn sớm mai, chư Phật ăn giữa ngọ, súc sanh ăn buổi chiều, quỉ ăn ban đêm. Người xuất gia y theo Phật, không ăn quá giữa ngọ. Loài quỉ đói nghe tiếng đũa bát thì trong cổ họng phát ra lửa dữ, cho nên đúng giữa ngọ ăn còn phải giữ im lặng, huống là ăn quá ngọ.
Ôi! Há chẳng răn chừa ư?

Trong ĐẠI LUẬT nói: Phi thời có hai phần: 1. Quá giữa ngày, 2. mặt trời chưa mọc. Lại nói: “Bóng mặt trời qua phía tây, một mải tóc, một sợi chỉ, tức gọi là phi thời”. Nay nói: Chữ “nhựt ngọ” là nói theo phương đây, cứ y theo Kinh Luật thì phải nói “nhựt trung” mới đúng. Bởi vì chữ “nhựt ngọ” có phân tám khắc; bốn khắc trước gọi là “phải thời”, bốn khắc sao gọi là “phi thời” sợ người lộn lạo nên không nói “nhựt ngọ” mà chỉ nói “nhựt trung” (mặt trời đứng bóng).
Kinh KHỞI THẾ NHƠN BỔN nói: “Tiếng phạm gọi “Ô phô sa tha” Trung hoa dịch là tăng trưởng” (thêm lớn). Thêm lớn cái gì? Chịu ăn chay giữ giới, thêm lớn căn lành. Nên Phật dạy: Không ăn quá “nhựt trung” là trai.
Như Kinh TỲ LA TAM MUỘI nói; “Ăn nhựt ngọ là ăn đúng phép”. Ông “Bình Sa Vương” hỏi Phật: “Vì sao ăn nhựt trung”? Phật nói: “Có bốn thời kỳ”. 1. Sớm mai chư Thiên ăn, 2. Nhựt trung thời ba đời chư Phật ăn, 3. Mặt nhựt qua phía tây súc sanh ăn, 4. Mặt nhựt lặng thời quỉ thần ăn. Đức Như Lai muốn đoạn nhơn trong sáu thú, đặng vào lý trung đạo nên chế dạy đồng ăn theo các Đức Phật ba đời. Sở dĩ Đức Như Lai hằng giữ lý trung đạo, từ khi sanh trong cung vua, cho đến lúc nhập “Niết Bàn” chặng giữa chưa từng ăn uống phi thời.
Kinh XỨ XỨ nói: “Phật dạy sau nhựt trung không ăn có năm việc phước: 1. Ít dâm. 2. Ít ngủ, 3. Đặng nhứt tâm, 4. Ít hạ phong, 5. Thân được yên ổn khỏi sanh bệnh.
Kinh SA DI NI GIỚI nói: Hoặc vị Quốc Vương , bậc Trưởng giả quá nhựt trung, cúng đồ ăn cho ta, cũng không nên ăn, dù chết chớ không phạm vậy.
Lại trong Kinh XÁ LỢI PHẤT VẤN Phật bảo ông Xá Lợi Phất rằng: “Những người ăn phi thời là những người phá giới, là người phạm tội ăn trộm, là người bệnh lác, vì hư quả lành chẳng phải đệ tử Ta. Trộm pháp Ta mà cầu lợi, trộm danh, trộm đồ ăn, một vóc, một nắm, chút muối, chút dấm, chết đoạ “địa ngục tiêu trường”, nuốt hòn sắc nóng, từ trong địa ngục ra, sanh trong loài heo chó, ăn những đồ ăn bất tịnh, kịp sanh làm chim ác, tiếng kêu ai cũng ghét, sau sanh trong loài ngạ quỉ, lết về trong chùa ở trong nhà xí, ăn uống đồ nhơ nhớp cả trăm nghìn muôn năm; lại sanh trong loài người bần cùng hạ tiện, người hay chán ghét, dầu nói lời chi cũng không ai tín dụng. Chẳng bằng trộm vật của một người, tội còn nhẹ hơn. Vì sao? Bởi phá giới ăn “phi thời” cướp giựt của nhiều người, ruộng phước tốt đẹp, đoạn mất đạo “xuất thế” vậy. Ấy là thằng giặc rất to, ấy là chú ngạ quỉ lớn, là nhà chứa tội. Còn người ăn “phải thời” là thế nào? Kẻ ăn “phải thời”, tức là ruộng phước, tức là người xuất gia, tức là bạn lành cõi “nhơn” cõi “thiên”, tức là vị đạo sư cõi nhân cõi thiên”. Như Phật Ngài nói khiến người dựng lông dửng ốc, đứt thần kinh. Vì sau trong một bữa ăn mang hại đến đỗi, những người có trí, há chẳng răn chừa ư!?

* * *
Đức Phật bảo: “Này các Tỳ Kheo, nếu Ta không giữ giới, sẽ đoạ trong ba đường ác, còn chẳng đặng làm thân người hạ tiện. Huống chi giáo hoá thành thục chúng sanh, và gây nên cõi nước thanh tịnh của Phật, đủ tất cả trí. Cho nên biết: Thà bỏ cái thân mạng, nát như mải trần, chớ nên huỷ phạm giới cấm mà sa đoạ trong ba đường, hằng mất hạt giống Bồ Đề của Đức Phật vậy”.
Kinh ĐẠI QUÁN ĐẢNH Phật dạy: “Bố thí cho bốn phương thiên hạ suốt trăm năm, được công đức không bằng một ngày đêm giữ gìn giới luật”.
Kinh HOA NGHIÊM: “Giới là nền tảng Bồ Đề gắng gìn thanh tịnh không hề nhớp nhơ”.
Kinh TÂM ĐỊA QUÁN Phật dạy: “Người giữ gìn giới Luật xuất gia chỉ trong một ngày đêm, cũng được 200 vạn kiếp không sa đoạ ác thú. Người đó thường được sanh tịnh độ hưởng phước trí thù thắng, thường gặp thiện tri thức vĩnh viễn không thối chuyển, thường gập chư Phật được lãnh Bồ Đề ký, ngồi toà Kim Cang thành bậc Chánh Giác”.
Kinh HOA NGHIÊM Phật dạy: “Giới luật là vị thuốc hay trừ được bệnh phiền não, như đấng cha mẹ giúp con qua cơn đau khổ, là chiếc bè bắt ngang sông sanh tử, là đèn soi đêm tối si mê”.
Kinh NIẾT BÀN dạy: “nếu không hộ trì giới luật làm sao thấy được Phật tánh, nhưng phải nhờ trì giới sau đó Phật tánh mới hiển lộ, nhơn thấy Phật tánh mới chứng được giác trí”.
NGŨ BÁCH VẤN SỰ nói: “Nếu sống theo giới luật là thấy được Pháp Thân, nên hộ trì giới pháp tức là hộ trì chư Phật. Như nữa tháng thuyết giới tức là thấy Như Lai vậy”.
Kinh TRÌ ĐỊA Phật dạy: “Nguyên nhân để được 32 tướng tốt, không có gì khác hơn là do nghiêm trì giới luật. Nếu trước không trì giới thì nay mong làm thân người hạ tiện còn không được thay, huống gì lại được thân tướng đại nhân”.
Kinh BỒ TÁT THIỆN GIỚI: “Ba mươi hai tướng mỗi chỗ điều có nói nhân duyên là do tinh tấn trì giới. Tại sao? Nếu không tu trì giới chỉ tu tinh tấn còn chẳng được thân người huống gì được ba mươi hai tướng”.
Kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN: “Này thiện nam tử! Nếu chẳng quan sát giới luật là thềm thang của tất cả pháp lành, như mặt đất là chỗ nương tựa của tất cả cây cối, là đạo thủ của các thiện căn, như thương chủ dẫn dắt đoàn người buôn. Giới là thắng tràng của tất cả pháp lành, như thắng tràng của Thiên Đế Thích dựng. Giới có thể dứt tất cả nghiệp ác và ba ác đạo, có thể trị lành những bệnh dữ như dược thọ. Giới là tư lương trên con đường hiểm sanh tử, giới là giáp tượng đánh dẹp phiền não hung ác. Giới là thần chú hay diệt rắn độc kiết sử. Giới là cây cầu đi qua khỏi nghiệp ác. Nếu chẳng quan sát như vậy thời gọi là chẳng tu giới”.
Luận ĐẠI TRÍ ĐỘ dạy: “Nếu người nào muốn cầu lợi ích lớn thì trước hết phải kiên trì giới luật, như quý ngọc báu, như giữ thân mạng, vì giới luật là chỗ an trú của tất cả thiện pháp”.
TÀM – QUÝ: Là hai thiện tâm sở.
Luận ĐẠI THỪA QUẢNG NGŨ UẨN nói: “Sao gọi là tàm? Nghĩa là tự tăng thượng, là tính hổ thẹn đối với vịêc đã làm. Tội gọi là lỗi lầm, chỗ người trí chán ghét lo sợ; hổ thẹn thì không làm những điều tội lỗi, phòng ngừa đình chỉ việc ác, để tránh việc bất thiện. Sao gọi là quý? Nghĩa là tha tăng thượng, là tính hổ thẹn đối với tội đã làm, nghĩa là sợ sệt trách phạt lời bình luận chê bai… có tội lỗi nên hổ thẹn với người, không gây nghiệp bất thiện.”
Kinh NIẾT BÀN nói: “Có hai bạch pháp cứu được chúng sanh: Một là Tàm. Hai là Quý. Có tàm quý thì biết cung kính cha mẹ, sư trưởng tất cả đạo tục, nhân và phi nhân. Lại hay kính trọng Tam Bảo, diệt được các nghiệp ác”.
Kinh TẠP A HÀM nói: “Khéo giữ gìn Tất cả các nghiệp thân khẩu ý, Tàm Quý mà tự phòng, đó là khéo thủ hộ: Lại nói: “Thế gian không có hai pháp Tàm Quý thì trái vượt thanh tịnh, hướng đến sanh lão bệnh tử. Thế gian nếu thành tựu hai pháp Tàm Quý thì tăng trưởng thanh tịnh và đóng cửa sanh tử vĩnh viễn”.
TAM ĐỘC:
Luận TRÍ ĐỘ nói: “Có lợi ích cho ta thì sanh tham dục, trái nghịch ta thì sanh sân nhuế, kiết sử này không sanh từ trí mà phát sanh từ cuồng mê, do đó gọi là si. Ba độc là tất cả phiền não”.
Kinh NẾT BÀN nói: “Độc trong các độc không gì quá hơn ba độc”. Ba độc tham, sân, si giết hại pháp thân, độc hơn rắn rết, vì giống như phân nhơ nên bỏ. Phàm bố thí thì không trộm cắp nên không tham, có lòng từ thì không giết hại nên không sân, có trí huệ thì không tham dục nên không si. Không trộm cắp nên nhiều của báu, không giết hại nên được trường thọ, không dâm dục nên có trí và có lễ. Tánh tội ba độc đã trừ thì hạnh lành lục độ thành tựu viên mãn”.

LỜI KHUYẾN KẾT

Trong nghi Giới Đàn nói: Giới pháp trong đây rất là khó gặp, ví nếu đức Phật chẳng xuất thế, thì giới pháp này không có ở trên đời. Chúng sanh vì không giới để tu, nên trôi chìm mãi trong vòng sanh tử chịu vô cùng sự thiểu não. Nhờ nương giới này mà ngăn tội nơi thân, dứt lỗi nơi miệng. Tội lỗi đã không thì sự khổ có thể thoát khỏi, lại thêm hàng ngày tu các pháp lành, rửa lòng trong sạch, thì tịnh độ sẽ được về Thánh quả sẽ được chứng.
Nên biết tất cả chư Phật nhờ nhứt tâm tinh tấn, thanh tịnh mà thành bậc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Vì thế nên người đã phát tâm Bồ Đề mình người cùng thoát khổ được vui, phải nên nổ lực siêng tu mới được.
Kinh XUẤT DIỆU từng có lời răn nhắc:
Ngày nay đã qua
Mạng cũng lần giảm
Như cá cạn nước
Nào có vui gì.

NAM MÔ THẬP PHƯƠNG THƯỜNG TRỤ TAM BẢO





















LỜI BẠT

Cổ Đức có câu: Kinh là tâm Phật, Luật là hạnh Phật, tâm hạnh liên quan cũng như thân và tâm không rời.
Thật vậy, nhìn lại các Thánh đệ tử thời Đức Phật, cũng như Tổ Tổ tương truyền. Các Ngài làm chủ được sanh tử, sống chết tự tại. Đối với lời Phật dạy, các Ngài hành trì nghiêm mật, không dám phạm những điều nhỏ. Đức Phật với tâm Từ Bi thương xót cho hàng đệ tử tại gia vì gia duyên ràng buộc, không thể sống đời sống Phạm hạnh như hàng đệ tử xuất gia. Cho nên Đức Phật chế ra cho hàng đệ tử tại gia pháp Bát Quan Trai Giới, để tập sống đời sống tu hạnh xuất thế trong một ngày một đêm, với giới pháp mình đã thọ.
Như sự thấy biết của tôi với người thọ Bát quan trai giới hiện nay, cũng có đôi điều suy nghĩ như: Các vị Phật tử đến chùa thọ giới, sau khi thọ trai xong, không ở lại chùa nghe tụng giới và cùng đại chúng tu học, mà vội về nhà. Không biết các vị đó hiểu được trong văn giới dạy phải hành trì như thế nào? Vả lại, khi về nhà với bổn phận làm ông, bà, hoặc cha, mẹ, hoặc chồng, vợ, hoặc làm con, cháu, đối với những tình cảm đó, có giữ được giới pháp mình đã lãnh thọ không? Vì người thọ Bát quan trai giới là người tự nguyện sống đời sống ly dục trọn một ngày đêm, được gọi là tịnh hạnh Ưu bà tắc, hay tịnh hạnh Ưu bà di. Bát Quan Trai Giới đó là 9/10 giới của hàng đệ tử xuất gia của Đức Phật, gọi là Sa Di, Sa Di Ni. Nay tôi tách rời giới còn lại của Sa Di, mà làm một quyển Bát Quan Trai Giới để cho các vị thọ giới tiện bề tham khảo. Nhưng trong đây cũng có phần không đồng nhất, mà tôi có ý ghi lại để giải thích cho quý vị khỏi phần thắc mắc. Như trong chánh văn gồm có các giới:
1. Không được sát sanh.
2. Không được trộm cắp.
3. Không được dâm dục.
4. Không được vọng ngữ.
5. Không được uống rượu.
6. Không được đeo bông xoa hương trang điểm nơi thân.
7. Không được ca múa đờn hát hay cố đi xem nghe.
8. Không nên ngồi gường ghế rộng cao đẹp.
9. Không được ăn phi thời.
Từ giới Không được sát sanh, đến giới Không nên ngồi gường ghế rộng cao đẹp là tám giới. Còn giới không ăn phi thời, gọi là Trai. Gọi chung là Bát Quan Trai Giới.
Đối với Phật Học Danh Số lấy giới thứ 7 và 8 hợp lại làm một giới.
Theo từ điển Phật Học Huệ Quang lấy giới thứ 6 và 7 hợp lại làm một giới. Các nhà biên soạn tuy có sự sắp xếp khác nhau, nhưng nội dung trong các giới không khác.
Quyển Bát Quan Trai Giới này có được là dựa theo lời chư Phật, chư Tổ dạy trong Kinh, Luật, Luận. Không có ý riêng của người soạn, con xin thay mặt đại chúng tri ân đến các dịch giải như: Hoà Thượng thượng Trí hạ Tịnh, Hoà Thượng thượng Hành hạ Trụ, Hoà Thượng thượng Trung hạ Quán . . . Đã giúp chúng con có được tài liệu, thêm sự hiểu biết, giữ vững niềm tin trên bước đường tu nhơn học Phật. Con xin thành kính tri ân với sự giáo dưỡng của Hoà Thượng Ân Sư thượng Trí hạ Tịnh, được sự nhắc nhở giảng dạy của Hoà Thượng thượng Minh hạ Thông (chùa Huệ Nghiêm), và Thượng toạ Thích Hoằng Tri đã tạo đều kiện cho con tu học trong suốt thời gian qua, cùng với sự khuyến khích của Đại đức Thích Hoằng Nhiệm, đã giúp con hoàn thành quyển Bát quan trai giới này. Với sự hiểu biết còn giới hạn, trong đây không tránh được phần sai lầm và thiếu sót, vậy ngưỡng mong các bậc Tôn Đức và Thiện tri thức chỉ giáo thêm, con xin thành kính tri ân vô lượng.
Nguyện đem công đức này,
Hướng về khắp tất cả.
Đệ tử và chúng sanh,
Đều trọn thành Phật đạo.
.
Chùa Vạn Đức ngày 30 tháng 11 năm tân mão
PL: 2555
THÍCH HOẰNG NĂNG
Kính ghi