Thứ Tư, ngày 12 tháng 8 năm 2015

ĐỨC CẦN KIỆM, TRI TÚC, BÌNH DỊ CỦA HT. THÍCH TRÍ TỊNH

thichtritinhNgày nay, trước xu thế xa hoa hưởng lạc của một số vị tu sĩ, thì đức hạnh tri túc, kiệm phước, thanh đạm của Hòa thượng Thích Trí Tịnh là cả một bài học lớn và sống động.
Tôi chỉ có phước duyên gặp HT. Thích Trí Tịnh vài lần, nhưng ngài đã để lại cho tôi ấn tượng sâu sắc.
Từ nhỏ, qua tiếp xúc kinh điển Phật giáo, tôi đã biết đến HT. Thích Trí Tịnh như là một dịch giả hàng đầu. Nếu những bộ kinh Nam truyền gắn liền với tên tuổi HT. Thích Minh Châu, thì những bộ kinh Bắc truyền hầu như song hành với nhà dịch thuật HT. Thích Trí Tịnh.
Tuy nhiên, trong chương trình thuyết pháp ở chùa Ấn Quang, HT. Thích Trí Tịnh không tham dự diễn giảng, nên muốn được nhìn thấy hòa thượng, thì phải chờ đến khi Giáo hội họp, thường là vào một buổi sáng ngày thường nào đó trong tuần.
Với sự ngưỡng mộ hòa thượng, nhà dịch thuật kinh điển lỗi lạc của Phật giáo Việt Nam, tôi chờ đợi cơ hội được nhìn thấy hòa thượng một lần.
Hòa thượng đến chùa Ấn Quang bằng một chiếc xe hơi cũ. Lúc này, sau 1975 chỉ vài năm, các nhà lãnh đạo tôn giáo vẫn còn dùng xe hơi còn lại từ trước. Các nhà lãnh đạo Phật giáo chỉ đi xe bậc trung trở xuống, tuy nhiên, đều là xe nhập khẩu. Trong khi đó hòa thượng Thích Trí Tịnh dùng một chiếc xe Việt Nam lắp ráp, loại bình dân, là xe La Dalat mui trần (Citroen Việt Nam đóng khung xe và ghế, dùng máy xe Citroen của Pháp). Quả thật, tôi bất ngờ khi một thầy gọi tôi và chỉ: “Kìa, Hòa thượng Vạn Đức xuống kìa”.
Hòa thượng không ngồi trên băng ghế sau như vẫn thường thấy ở các nhà lãnh đạo tôn giáo, mà ngồi ở ghế trước, gần gũi với người lái xe. Hòa thượng tươi cười bước xuống. Tôi theo các thầy vái chào hòa thượng, nhưng khi hòa thượng đến gần, trước uy đức của ngài tôi không dám nhìn lên, mà chỉ cúi đầu thật thấp, nhìn xuống.
Và thật bất ngờ, tôi nhìn thấy vị danh tăng được cả nước biết đến, nhà dịch thuật tầm vóc thuộc loại hàng đầu của PGVN, Phó viện trưởng Viện Hóa đạo mang đôi dép mỏng, sờn quai, cũ kỹ mà bước đi những bước nhẹ nhàng, an lạc, thong dong, tự tại. Đôi dép cũ sờn, mòn dưới chân hòa thượng nói lên một phần đức tính cao đẹp của hòa thượng: cần kiệm, thanh đạm, tri túc, bình dị.
Vạt áo tràng nâu của hòa thượng cũng sờn vạt. Chiếc áo quá cũ.
Ngày nay, trước xu thế xa hoa hưởng lạc của một số vị tu sĩ, thì đức hạnh tri túc, kiệm phước, thanh đạm của Hòa thượng Thích Trí Tịnh là cả một bài học lớn và sống động.
Hưởng thụ, xa hoa, dùng những đồ dùng hảo hạng, nơi cư trú vương giả, xe hơi đắt tiền, quý phái… được một số nhà tu hành coi là kết quả của phước báu, cũng là biểu hiện của phước báu. Có người nghĩ rằng do có phước báu thì mới được cuộc sống như thế và trong kinh cũng có nói. Vì thế, các vị không ngại dùng, mà còn phô trương như một kết quả tu hành.
Nhưng nói về phước báu tu hành, công đức bố thí pháp, thì có mấy vị tu sĩ Phật giáo có thể so sánh với Hòa thượng Thích Trí Tịnh, một Huyền Trang Pháp sư của Phật giáo Việt Nam, thầy dạy của một không biết bao nhiêu thế hệ tăng sĩ. Vậy mà hòa thượng đi một chiếc xe rẻ tiền cũ kỹ, mang một đôi dép sờn mòn. Ngước lên, hòa thượng mặc một chiếc áo tràng nâu cũ, có chỗ bạc màu. Phải chăng hòa thượng không hưởng phước báu? Chẳng qua đó là hành tri túc, kiệm phước của hòa thượng.
So với việc hưởng thụ phước đức với những đồ dùng tốt nhất, thì đôi dép mòn, chiếc áo cũ là những biểu tượng của sự vượt trội của đức hạnh.
ht t tri tinh
Hôm nay, di ảnh của Hòa thượng cũng bình dị, gần gũi như thế, không mũ mão rực rỡ, không y hậu gấm vóc, mà chỉ một chiếc áo lễ như bao vị tu sĩ khác. Nhà lãnh đạo Phật giáo Việt Nam trong nhiều thập kỷ vô cùng bình dị như thế!

Minh Thạnh 

Sư Ông Dạy Về Nhất Tâm, Tinh Tấn Và Chuyển Hóa Vọng Niệm

Đại lão Hoà thượng Thích Trí Tịnh sinh năm 1917, được suy cử Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN từ năm 1984 đến nay, là một bậc Tòng Lâm thạch trụ, đã phiên dịch nhiều bộ kinh lớn, khiến cho giáo nghĩa Đại thừa được lưu thông, Phật pháp được lưu truyền trong tứ chúng. Hoà thượng tinh thông cả thiền giáo, là tấm gương sáng, bậc chân tu sáng ngời đạo hạnh trong lòng Tăng Ni, Phật tử Việt Nam, là bậc thầy mẫu mực của Tịnh tông để các liên hữu cùng noi bước.
Các bậc tổ sư thường dạy đồ chúng cách tâm niệm để làm phương châm hành trì. Xin Sư ông cho chúng con một lời khuyên dưới hình thức một lời tâm niệm?
Người xưa thường nói: “Sanh tử sự đại” nhưng mình đã quen sống trong sanh tử, ai cũng vậy hết, nên không thấy quan trọng. Kỳ thật, lấy mắt đạo mà nhìn vào thì đó là việc lớn của mọi người, của chúng sanh. Đã lăn lóc mãi trong nhiều đời, hiện tại nếu không cố gắng thì những đời sau cũng vẫn lẩn quẩn trong vũng lầy sanh tử mà thôi.
Gặp được Phật pháp rất khó! Trên đời này không có pháp nào thoát ly sinh tử, chỉ có giáo pháp của Phật mới ra khỏi sanh tử luân hồi. Vì thế, gặp được rồi thì mình phải cố gắng để vững bền trong chánh pháp. Cho nên, Phật dạy tất cả đều phải tinh tấn, nhất tâm. Nhưng chúng ta lại có cái lỗi là luôn phóng dật, giãi đãi. Trong Luật, những khi có việc gì thì các vị Trưởng lão, các vị Đại đức đều khuyên nhắc: “Phải tinh tấn, chớ phóng dật”. Chỉ có hai điều đó thôi! Phóng dật ở thân khẩu thì dễ biết, còn ở tâm ý thì rất khó biết. Hễ duyên theo lục trần đều là phóng dật. Phóng dật thì trôi theo sanh tử. Tinh tấn thì đạt Niết-bàn. Người tu hành phải tinh tấn thì mọi khó khăn đều sẽ vượt qua, mọi công đức sẽ đạt được.
Trong một số bài giảng, Sư ông thỉnh thoảng sử dụng từ “tu mót” để khích lệ tứ chúng tinh tấn tu tập. Xin Sư ông giải thích thêm ý nghĩa của tu mót là gì?
Các bậc tổ đức ngày xưa khi vào trong đạo liền tìm cách để được định và tuệ. Chúng ta trong thời mạt pháp, lăn lóc trong ồn náo, nhiều chuyện, nhiều việc, nhiều người nên tôi thường nhắc nhở sự tu hành của mình giống như là “tu mót”. Mót thời gian để tu, đừng bỏ qua. Gặp việc thì làm việc. Rảnh việc thì nhiếp tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Được một phút thì tốt một phút. Được một giờ thì tốt một giờ. Thế nên đừng bỏ qua việc tu mót.
Ví như những người ở quê ngày xưa đi mót lúa, tuy chỉ mót lúa nhưng vẫn đủ lúa gạo để ăn, vẫn nuôi thân, nuôi gia đình được. Mình đây cũng vậy, nếu cố gắng mót thì cũng được đầy đủ đạo pháp, nuôi lớn pháp thân, huệ mạng của chính mình. Nếu huynh đệ thực hành một thời gian rồi nghiệm lại sẽ thấy “tu mót” lại nhiều hơn thời khoá tu hành chính. Vì thế nếu bỏ qua tu mót thì bỏ phí rất nhiều thời gian.
Ai cũng có công việc hết, nhưng rồi cũng có xen kẽ, lúc tâm trí mình được rảnh rang thì gắng giữ ba điều: Niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Được vậy, phóng dật bớt dần lại, tương ưng với phần tinh tấn. Nếu trọn đời mình sống trong chánh pháp của đức Phật thì đường đạo mỗi ngày sẽ mỗi tăng tiến.
Sư ông vừa dạy niệm Tam bảo. Vậy trọng tâm của pháp niệm này là gì?
Ai nấy cần phải nhất tâm và chánh niệm. Chánh niệm đứng đầu là ba niệm: Niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Đừng để nó rời. Niệm Phật thì niệm hồng danh, niệm tướng hảo, niệm công đức. Niệm Pháp thì phải thuộc kinh, vì nhớ đến kinh pháp tức là niệm Pháp. Niệm Tăng thì ở nơi đức Quán Thế Âm Bồ-tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ-tát hay Phổ Hiền Bồ-tát, cho đến Di Lặc Bồ-tát, Địa Tạng Bồ-tát đều là Bồ-tát Tăng đáng để cho chúng ta nghĩ đến các ngài và công hạnh của các ngài. Nếu tâm mình thường nghĩ tưởng như vậy thì bớt phóng dật, tất được tinh tấn. Tinh tấn dần từ một ngày, hai ngày, ba ngày, cho đến nhiều tháng nhiều năm thì lần lần cội bồ-đề mà mình vun trồng sẽ càng thêm to lớn, vững mạnh.
Làm thế nào để vượt qua các vọng niệm?
Vọng tâm, vọng niệm dễ sanh. Những phiền não, nghiệp chướng cũng dễ phát khởi. Do vì cảnh duyên bên ngoài trợ giúp mấy thứ đó phát triển, tăng trưởng. Mình ở trong thời mạt pháp, lấy sức người để tu hành cũng giống như ở nơi giữa dòng sông, chẳng những là nước mà lại có sóng lớn nữa, luôn luôn lúc nào cũng có sóng hết. Trong đó phải bơi lội thì việc đó cần cố gắng lắm mới được. Có cố gắng mới thành công.
Do đó, cần lập nguyện. Chí nguyện lớn sẽ giúp mình thêm cố gắng và vững chãi hơn ở đường đạo. Chí nguyện phải thật vững để giúp cho nghị lực, vì có chí nguyện ắt có nghị lực. Như thế mới vững vàng được ở nơi những luồng sóng dập dồn, nếu sơ suất liền bị chìm. Nói tiếng chìm, huynh đệ cần phải suy nghĩ cho kỹ.
Ở cõi ngũ trược này, phát chí nguyện phải dũng mãnh, nghị lực phải dũng mãnh. Ở trong cái khó mà tu tập thì hạnh đức cao vời. Khó thì dễ hư nhưng thành tựu được thì công cao. Do đó, trong kinh Duy Ma Cật nói: “Bồ-tát ở nơi cõi đời này, có những công đức mà nơi cõi khác không có được” chính là ý này vậy.
Huynh đệ biết khó thì phải cố gắng. Lập chí lập nguyện cố gắng vượt lên. Luôn luôn kiểm soát tâm ý của mình lẫn cả về hành động và lời nói. Kiểm soát nếu thấy không đúng thì sửa lại cho đúng. Ai cũng đều có lỗi, nhưng có lỗi mà biết sửa đổi thì thành tốt. Mong rằng chư huynh đệ đều nhất tâm, tinh tấn tu hành!
Khi tu sĩ chúng con làm Phật sự thì phải tiếp duyên. Vậy, tiếp duyên thế nào để Phật sự thành công mà không bị vướng dính duyên trần?
Sống trong cuộc đời, muốn được thong thả, rảnh rang thì đừng dính đến quyền lợi. Làm việc hễ thuận duyên thì làm, không thuận thì phải khéo léo nhẫn chịu để vượt qua. Không phải hàng xuất gia không bị dính mắc vào quyền lợi. Huống nữa, chính quyền lợi đó sẽ đem đến những tai hoạ cho thân mình. Mấy huynh đệ tuổi còn trẻ, đường còn dài, phải lưu ý lắm mới được.
Người đời có sự nghiệp của người đời. Người xuất gia có sự nghiệp của người xuất gia. Chỉ là lớn hay nhỏ thôi. Tuy vậy, mình nhớ tạo sự nghiệp phải được như con nhện, đừng như con tằm nhả tơ rồi phải chết trong kén của nó. Tôi chỉ luôn luôn mong cầu công đức. Tôi khuyên các huynh đệ không mong cầu những cái lợi như người đời thường nghĩ. Cái lợi của người tu chính là thiện căn công đức, đâu phải là tiền bạc, vật chất. Mấy huynh đệ phải nhớ mình ở chỗ nào, nơi nào cũng phải gây tạo thiện căn công đức, đừng chạy theo những vật chất bên ngoài.
Tôi luôn làm theo khẩu hiệu ngầm của riêng mình. Những việc đúng pháp, về mặt tinh thần hoặc vật chất thì “không cầu cũng không từ”. Nghĩa là không tìm cầu cũng không từ chối. Đây là khẩu hiệu để tôi lập thân. Chẳng hạn, nếu có duyên cất chùa, mà cái duyên đó nó tự đến, nhận thấy đáng thì không từ chối. Cho đến tứ sự cúng dường cũng vậy, những vật gì không dùng nhưng cũng không từ chối. Mình không sử dụng thì chuyển đến người khác, cho đại chúng dùng.
Nếu làm việc gì, dù có cái lợi lớn trước mắt nhưng khi làm có cái hại xen vô trong hiện tại hoặc tương lai thì quyết không làm, không tham dự. Ví dụ như danh vị, tiền bạc, lời khen tặng … Nếu được lợi thì phải xem có cái hại hay không. Nếu có thì phải tránh xa. Thấy hại mà vẫn chạy vô thì bị nghiệp dẫn.
Tôi thấy việc tu hành đã trải qua mấy mươi năm, nhờ ứng dụng những điều trên mà không bị tổn thất, chịu cái hại lớn, mà lại thấy việc nhẹ nhàng, thảnh thơi. Tôi đã nói tận đáy lòng. Mấy huynh đệ thấy đúng lý thì nên bắt chước làm theo, để sự tu hành không bị vướng kẹt, thiện căn công đức luôn được tăng trưởng. Đó là điều tôi muốn ở tất cả mấy huynh đệ.
Xin Sư ông cho chúng con một lời khuyên để chúng con áp dụng tu hành!
Ngày tháng trôi qua mau lắm, một năm không mấy chốc mà đã hết rồi. Già, bệnh, chết mãi đeo theo người, không chừa ai hết. Mong các huynh đệ ai nấy đối với pháp của Phật, không biết nhiều thì cũng biết ít, noi theo chỗ hiểu biết của mình mà tinh tấn tu hành, luôn luôn nghĩ đến vô thường, sanh tử. Thân này tuy không bền lâu, mình phải cố gắng nương theo thân người này để tu hành, vượt qua biển sanh tử, lên đến bờ giải thoát. Nếu chưa được vậy thì cũng làm nhân duyên thù thắng cho những đời sau, đạo tâm kiên cố, căn lành tăng trưởng.
Thời gian qua thật mau, đừng để luống uổng, phải thường nghĩ vô thường. Nhớ lại thuở trước, chỗ mình đang ngồi, đang quỳ ở đây là nơi mấy em cháu (bây giờ cũng sáu, bảy mươi tuổi rồi) đứng hái trái sim, thì mấy huynh đệ biết nó thuộc rừng rú. Rồi mình khai hoang, cất chùa. Thấm thoát cây gỗ của chùa cũng mục. Từ đó, biết rằng thời gian trôi mau lắm, năm sáu chục năm thoáng chốc đã qua. Vì vậy, nên nhớ lời Phật dạy, phải luôn nghĩ đến vô thường. Thân này còn đây, ngày mai không bảo đảm.
Pháp của Phật rõ ràng, chỉ ở nơi mình có chịu làm hay không chịu làm đó thôi. Nên gắng tinh tấn giữ đạo tu hành. Cầu mong mấy huynh đệ căn lành mỗi ngày thêm lớn, công đức mỗi ngày tăng trưởng.
Chúng con thành kính tri ân Sư ông đã khai tâm mở trí chúng con. Chúng con xin y giáo phụng hành.
Thượng Tọa Thích Hoằng Tri thực hiện

Hòa Thượng Thích Trí Tịnh Dạy Về Pháp Tu Tịnh Độ‏

LTS: Đại lão Hòa thượng thượng Trí hạ Tịnh – Đệ nhất Phó Pháp chủ, Chủ tịch HĐTS GHPGVN – là bậc Tòng lâm thạch trụ và là một trong những đại dịch giả của Phật giáo Việt Nam. Mặc dù tinh thông cả Thiền lẫn Giáo, song Hòa thượng một đời chuyên tâm hành trì pháp môn Tịnh độ và luôn luôn khuyến tấn Tăng Ni, Phật tử ăn chay, giữ giới, niệm Phật…
Nhân dịp thực hiện chuyên đề về pháp tu Tịnh độ tại Việt Nam, đại diện Ban Biên tập và bộ phận biên tập Nguyệt san Giác Ngộ đã có cuộc thỉnh vấn, đảnh lễ Hòa thượng. Bài viết sau đây là lời kể về cuộc đời tu và lời dạy của Ngài về pháp môn Tịnh độ. Xin hân hạnh giới thiệu cùng quý độc giả.
Nguyệt San Giác Ngộ
Niệm Phật từ thuở thiếu thời
“Thuở nhỏ ở nhà, lúc đó khoảng 12-13 tuổi, tôi đã tự mình niệm Phật”, Hòa thượng kể. “Tôi đọc trong Tây phương trực chỉ, thấy có nói hễ niệm được 300 ngàn câu Phật thì được vãng sanh Cực Lạc. Tôi tin mà làm. Nhưng vì sao tin thì tôi không biết!”
“Tôi lấy quyển sách quảng cáo thuốc của ông anh (anh tôi làm chủ tiệm thuốc Bắc) đem về đặt trên gối ở đầu giường, cứ mở sách ra rồi… niệm Phật! Cứ tính niệm được 100 câu Phật thì lật một tờ. Mọi người tưởng tôi đọc truyện, bởi người ta có in kèm truyện trong sách. Tôi ở nhà mà niệm Phật lén vậy, không ai hay biết”.
Sinh năm 1917 trong một gia đình nhà nông chân chất tại Sa Đéc (Đồng Tháp), thân phụ của Hòa thượng qua đời từ lúc ngài lên ba, đến năm lên bảy thì thân mẫu cũng tạ thế, Hòa thượng sống với người anh thứ ba.
“Lúc tôi biết mến đạo là vào khoảng năm 1928, thời điểm người ta bắt đầu xây dựng Thánh thất Cao Đài ở Tây Ninh. Một số người bà con của tôi cũng ở gần đó, theo Cao Đài, để tóc bới và ăn chay trường. Tôi cũng ăn chay trường một mình ở nhà, thường ăn với nước cơm, nước muối. Bởi hễ thấy thịt cá là tôi nhớ ngay đến cảnh người ta đánh vảy, cắt cổ, làm thịt nên không ăn được”.
Hòa thượng không theo Cao Đài vì cảm thấy “không hạp”, dù ngài vẫn thường mượn các sách Thông thiên học của mấy thầy cô giáo để đọc.
“Tôi tin pháp môn niệm Phật, không lúc nào quên đạo Phật, nhưng lại vô chùa không được, vì chùa lúc nào cũng tối om om, tượng thì ông nào cũng đội khăn đỏ trên đầu, chỉ có một đốm sáng nơi lỗ mũi, về nhà thấy muốn nóng lạnh. Ngoài đường thì có một ông thầy đi trước, thằng nhỏ theo sau, đầu đội cái thúng, trong để chuông mõ, tượng Phật và đồ minh khí để đốt. Tôi nghĩ tu hành gì kỳ vậy nên không mến được!”

Đại diện Ban biên tập và bộ phận Biên tập NSGN đảnh lễ và thỉnh vấn Hòa thượng
Năm 15, 16 tuổi, Hòa thượng hết tuổi học trường Pháp Việt, qua cấp khác thì không đủ điều kiện, nên quyết định học nghề – từ học sửa xe đạp đến học sửa đồng hồ rồi theo người anh làm không công để học thuốc. Nhờ đọc sách thuốc mà Hòa thượng dần dần thông chữ Hán. Trong khi đó, gia đình người anh thường xảy ra cảnh lục đục nên Hòa thượng có ý xuất trần.
“Tôi muốn đi lắm, nhưng cha mẹ không có, tôi đang ở với anh chị nên cũng khó. Tôi lại còn người chị thứ sáu – bây giờ chị vẫn còn sống – hai chị em hủ hỉ có nhau, vui buồn chia sớt, nếu đi thì bỏ chị lại. Tôi học nghề, nghĩ rằng nếu chị ở vậy thì hai chị em có thể nuôi nhau”.
“Đến năm tôi 20 tuổi, chị lập gia đình. Tôi bắt đầu tính chuyện giải thoát thế gian. Nghe người ta nói ở Thất Sơn – Tà Lơn có nhiều người tu theo đạo Phật, có chùa, am, cốc, nên tôi bèn dò la, biết được chùa am chủ yếu tập trung ở Núi Cấm. Đầu năm 21 tuổi, tôi bỏ nhà lên núi, để lại lá thơ chớ không cho ai biết. Lúc đó nhằm ngày 14-2-Đinh Sửu. Khoảng hơn 2 giờ chiều thì tới chân núi, tôi quăng guốc chạy chân không, cảm thấy lòng nhẹ nhõm như không còn gì dính líu. Chạy rát chân thì đứng lại, leo lên gộp đá bên đường ngó bốn phía, tôi khấn vái rằng mình là người phàm mắt thịt, không biết đâu thánh phàm, nguyện ơn trên chỉ dẫn, cứ một mặt phía truớc mà bước đi, gặp chỗ nào thì ở đó chớ không chọn lựa”.
khoa-tu-phat-that-an-giang-2007
Khóa tu Phật thất năm 2007 tại chùa Vạn Linh – Núi Cấm, An Giang
“Khoảng hơn 5 giờ thì tôi tới Vạn Linh, nghe nói thầy đang ở ngoài cốc, đến tối mới gặp được. Sau thời Tịnh độ, thầy vào ngồi bên bàn, bóng đèn leo lét. Tôi đứng một bên; năm, bảy huynh đệ đứng bên kia thưa chuyện. Thầy chỉ tôi mà mắt nhìn mấy huynh đệ, nói: “Mấy đứa bây đừng coi thường cái thằng nay nghe. Đời trước nó là Hòa thượng, bây giờ nó cũng sẽ là Hòa thượng đó!”. Thầy nói thêm một mình: “Làm Hòa thượng nhưng nó cũng thích nhìn con gái lắm, nên sẽ bị tật con mắt suốt đời không hết”. Mấy tiếng này thầy nói chậm lắm. “Này, coi sửa soạn mai rằm cho nó tu!”. Tôi nghe vậy thì mừng lắm, không nghĩ đến việc bịnh tật hay Hòa thượng gì cả, mà cũng không biết Hòa thượng là gì, được chấp nhận cho ở chùa tu là mừng lắm rồi!”.
“Chỉ trong vòng 2 tháng, mấy thời công phu trong chùa tôi thuộc không thua ai khác, trong đó phẩm Phổ Môn tôi thuộc đầu tiên. Nguyên do là tôi không có áo dài mặc lễ Phật. Chùa có mấy cái dành cho Phật tử, tôi mượn để tụng kinh. Sau có một Phật tử phát tâm cúng bốn thước vải đà, yêu cầu tụng 60 biến Phổ Môn. Mấy huynh đệ thấy tôi không có áo dài mặc nên bảo tôi tụng. Do đó mà tôi thuộc lòng phẩm Phổ Môn, rồi mến luôn kinh Pháp Hoa”.
Hòa thượng được phân công viết sớ, được cho ở trong một cái cốc nhỏ nơi vườn chùa. Nhờ vậy mà ngoài việc tụng kinh, Hòa thượng còn tranh thủ tụng thêm bốn thời nữa, rất tinh cần. Nghe mấy huynh đệ nói đến việc tu khổ hạnh, Hòa thượng cũng quyết thực hiện.
“Tôi bỏ ngủ, không nằm nữa, đến độ lên quả đường cầm chén cơm ngồi sững mà ngủ, rớt hồi nào cũng không hay, vậy mà cũng không thành gì, nên thôi. Rồi tôi lại tuyệt cốc, chỉ ăn rau, ăn riết rồi đi lên dốc cũng không nổi, yếu quá mà cũng không thành ông gì, lại bỏ!”.
Do được đọc tạp chí Từ Bi Âm mà Hòa thượng phát khởi ý nguyện cầu học Phật pháp, vì ngoài các thời trống phách kinh kệ, ngài không được học gì thêm. Cuối năm 1939, Hòa thượng xin phép Bổn sư xuống núi về Sài Gòn rồi ra Trung cầu học. Đoạn đường hết sức gian nan, không ai giúp đỡ, không có phương tiện, ngài chỉ ôm gói quần áo mà đi, từ Sài Gòn ra Phan Thiết, tới Bình Định rồi đến Huế. Ban đầu Hòa thượng ở chùa Tây Thiên, sau nhờ thầy Giác Tâm (người Bến Tre) giới thiệu đến chùa Báo Quốc theo học Phật học. Bấy giờ là năm 1940, trường chỉ có duy nhất một lớp, đang học đến năm thứ 6 Sơ đẳng, còn vài tháng nữa thì lên Trung đẳng, song Hòa thượng cũng được nhận vào học, lại được cấp học bổng và cho nội trú. Năm 1941, ngài thọ Sa di giới rồi tiếp tục học lên Trung đẳng và tốt nghiệp vào năm 1942, đến năm 1945 thì tốt nghiệp Cao đẳng. Tiếp theo là thời kỳ Hòa thượng ra làm việc, phụng sự Đạo Pháp…
Năm 1955, Hòa thượng thành lập Cực Lạc Liên hữu tại chùa Vạn Đức (Thủ Đức), khuyến tấn mọi người niệm Phật, cầu vãng sanh Tịnh độ. Ngài là vị thầy đương thời chấn hưng Tịnh độ trong tòa nhà Phật giáo Việt Nam. Tịnh độ Liên hữu do ngài sáng lập được duy trì trong suốt mười năm – cho đến năm 1964, khi GHPHVNTN thành lập – khơi dậy một phong trào tu tập mạnh mẽ, giúp cho rất nhiêu hành giả quy hướng Tịnh độ.
Những lời dạy của Hòa thượng về pháp tu Tịnh độ
“Pháp môn trì danh niệm Phật đơn giản lắm”, HT nói. “Trước hết, luôn luôn phải có lòng tin. Tin ở nơi lời giới thiệu của Đức Phật Thích Ca về Cực Lạc thế giới của Đức Phật Di Đà là chơn thật; tin vào y báo, chánh báo của cảnh giới ấy, vì đó là chỗ mà tất cả chúng sanh và các bậc Thánh đều phải nên về. Do là y báo, chánh báo của cảnh giới Cực Lạc có thể đưa mình đến nơi bậc thánh, thành Phật chứ không ngưng trệ hay do duyên gì mà thối lui. Tiếp theo là tin nơi Pháp mà Phật Thích Ca đã dạy, phải như thế nào thì mới có thể về cảnh giới Cực Lạc”.
“Có nhiều cách để vãng sanh Cưc Lạc, song cách trì danh là đơn giản nhất. Bởi theo danh tự mà niệm thì dễ, còn quán tưởng thì trí lực của người rất khó đến. Muốn ở nơi sự quán tưởng đúng theo kinh nói thì các bậc hiền thánh mới có thể thực hiện được. Trong khi trì danh thì dẫu kẻ phàm phu, tục tử vẫn có thể niệm, cứ đúng theo Nam mô A Mi Đà Phật mà hành trì”.
“Quý huynh đệ thấy, nếu quán về 32 tướng tốt của Phật, ngay chỉ tướng lông trắng giữa chặn mày của Phật A Mi Đà thôi cũng đã lớn bằng năm hòn núi Tu Di, như vậy thì làm sao nghĩ tới? Ở đây, ánh sáng lại tỏa ra khắp mười phương. Còn cặp mắt của ngài thì bằng bốn đại hải – đại hải đó không phải như ở biển ta, biển ở ta so ra thì chỉ là một cái cù lao – tưởng tượng sao nổi?”
“Cái tướng lông trắng đó của bất kỳ vị Phật nào, nếu kéo thẳng ra thì cũng đều đụng tới gót. Mà theo kinh, bề cao của thân Phật Di Đà là 60 muôn ức Na do tha số các sông Hằng (theo luận Câu xá thì một Na do tha bằng khoảng 100.000 tỷ – GN) – một hột cát được tính là một do tuần (khoảng 15-20 km), cộng lại là ra chiều cao thân Phật. Thử nghĩ, một sông Hằng có bao nhiêu hột cát, bao nhiêu do tuần? Mà thân ngài cao đến 60 muôn ức na do tha số cát sông Hằng! Do đó, tướng lông trắng đó cũng dài tương đương như vậy, xoắn tròn lại to bằng năm hòn núi Tu Di”.
“Đó không phải là cách nói tượng trưng đâu, mà Phật Thích Ca nói đúng thiệt như vậy. Nếu chỉ quán tưởng thân ngài cao như tượng mình thờ thì không chính xác. Còn nếu quán thật tướng chân như lại càng khó hơn nữa. Dù cũng có người làm được, nhưng chỉ là những bậc hiền thánh hiện thân. Do vậy, trì danh được xem là thấp nhất và dễ nhất. Mình đang đi bộ hay đi trên xe niệm Phật cũng được. Mình đang đứng ngắm cảnh cũng niệm được. Mình đang ngồi làm việc cũng niệm được và khi mệt mỏi quá nằm niệm cũng được. Chỉ trừ lúc nói chuyện là không niệm được thôi!”
“Trì danh nói là thấp song hành trì không dễ. Phải tin thực sâu, nguyện thực thiết và công hạnh phải chuyên cần thì mới hiệu nghiệm, nếu không thì cảnh khác chen vô phá hết. Khi niệm thì tâm và tiếng phải hiệp khắn nhau. Nghĩa là tâm phải duyên theo tiếng, tiếng phải ở trong tâm, đừng để nó xao lãng theo một tiếng gì khác, hễ nó rời ra thì phải kéo nó lại. Muốn được vậy, tiếng niệm phải cho rõ ràng, rành rẽ. Niệm như vậy phải chuyên cần, phải nhiều thời gian, phải đều đặn, phải tinh tấn lắm mới đắc lực. Khi niệm đã đắc lực thì tự nhiên trong tâm mình nổi lên tiếng niệm Phật mà mình không cần đề khởi, không cần nghĩ đến nó vẫn tự niệm. Ban đầu thì lúc được lúc mất, được thì ít mà mất thì nhiều. Cố gắng thêm thì được nhiều mất ít, cho đến khi không còn gián đoạn nữa thì gọi là niệm lực tương tục. Và như vậy mới đúng nghĩa “chấp trì danh hiệu”. Đó mới là nhơn của niệm Phật tam muội. Được vậy thì sự vãng sanh mới bảo đảm”.
“Tôi nói với mấy huynh đệ về chữ “chấp trì danh hiệu”. Chấp nghĩa là cầm, còn trì là giữ lại. Giống như tôi nắm quyển sách không buông ra vậy, hễ bỏ ra là không trì. Khi mình xưng danh hiệu ‘Nam Mô A Mi Đà Phật’, làm sao trong tâm mình chỉ có ‘Nam Mô A Mi Đà Phật’ mà thôi. Đừng có cái gì khác, đừng cho một niệm gì xen vào hết. Trong lúc niệm Phật mà còn niệm những thứ khac nữa thì không phải niệm Phật. Nếu chấp trì được danh hiệu như Phật Thích Ca nói thì nhất định vãng sanh. Làm không đúng thì không có kết quả. Lời Phật nói không khi nào sai cả, chỉ tại mình hiểu chưa đúng, mà khi hiểu đúng thì cũng không hẳn đã làm đúng”.
“Cũng có nhiều người đến than thở với tôi là muốn giữ cái tâm lại, nhiếp tâm để chấp trì danh Phật mà làm hoài nó vẫn cứ chạy. Vì cái chạy đó nó quen lâu năm rồi. Không phải lâu năm trong đời này, mà nó đã lâu năm trong nhiều đời trước nữa. Cho nên, mình phải cột, phải nắm lại, rồi lần lần ‘cột nắm’ cũng dần quen. Khi đứng lại thì nó cũng quen đứng luôn. Vậy nên, phải thật chịu khó để đạt nhất tâm bất loạn, tức niệm Phật tam muội. Trong Quán kinh nói, lúc Phật Di Đà hiện tiền thì các Phật khác cũng hiện tiền. Hiện tiền là hiện ra trước mắt chứ không phải chiêm bao”.
Hòa thượng nói thêm: “Khi dịch các kinh điển Đại thừa khác, tôi thấy trong các kinh đó đều có nói đến cảnh giới Cực Lạc của Đức Phật A Mi Đà. Như trong kinh Hoa Nghiêm, ngay cả các vị Đại Bồ tát nhập Bất khả tư nghì Giải thoát cảnh giới, khi các vị ngồi kề bên Phật còn khuyên với nhau xả bỏ thân này để về Cực Lạc, bởi duyên Cực Lạc khó có nước nào bằng. Vậy nên, chúng ta hãy chuyên tâm niệm Phật”.
CHÚC PHÚ – Q.KIẾN ghi
Nguồn tin từ Giác ngộ

HỘI KHUYẾN HỌC: Thắp sáng ngọn đuốc tri thức tại Cai Lậy – Tiền Giang

Nhân mùa Phật đản PL.2559 dưới sự chỉ đạo cố vấn của Thượng tọa Thích Hoằng Tri – trụ trì chùa vạn Đức (Q.Thủ Đức – Tp.HCM), Hội khuyến học Đuốc Tuệ do Đại đức Thích Hoằng Nhiệm làm Hội trưởng đã có chuyến đi phát quà từ thiện cho học sinh nghèo, vượt khó học giỏi tại huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang vào ngày hôm qua 30/05/2015 (13/04/Ất Mùi).
“Hãy dành những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em…” là một khẩu hiệu thường được dùng trong xã hội. Trên tinh thần đó, là người con Phật với tâm từ bi, nhân ái những hội viên của Hội khuyến học, bằng tất cả tấm lòng thành đã quyên tặng cho các em học sinh trường THCS Tân Bình và THPT Lê Văn Phẩm 100 xuất học bổng và quà tặng. Ngoài ra mỗi em còn được nhận một bức tranh thư pháp do nghệ nhân Chính Thiện thủ bút, bức thư pháp là thông điệp tình thương, trí tuệ và sự nghiệp gửi đến thế hệ mầm non của đất nước.

Trao học bổng cho các em học sinh trường THCS Tân Bình.
Nhịp cầu nhân ái của Hội khuyến học Đuốc Tuệ đã thắp lên ngọn lửa yêu thương, khơi dậy niềm tin cho các em học sinh. Ngọn lửa ấy đã sưởi ấm, sẻ chia với những tâm hồn bé nhỏ sớm phải vào đời bươn chải lo toan cho cuộc sống; thức khuya dậy sớm kiếm ít đồng tiền để được đến trường…

Các em học sinh trường THPT Lê Văn Phẩm nhận được học bổng.
Chuyến đi, tuy gặp không ít sự trở ngại, khó khăn nhưng những thành viên trong Hội cũng đã nhận được món quà quý giá nhất của cuộc đời đó là ký ức về những hành động thiện nguyện đầy an lạc và hạnh phúc.
Công đức lành này cúng dường lên đức Phật, cúng dường mười phương Tam bảo, hồi hướng Phật pháp mãi hưng thịnh ở thế gian, để chúng sanh nương nhờ lợi ích được hết khổ, nhiều an vui; niềm tin vào Tam bảo thêm lớn, tinh tấn niệm Phật, khi mãn báo thân này được đức Từ Phụ A-mi-đà tiếp dẫn về Tây phương Cực Lạc, sớm thành Phật, độ muôn loài.
Cùng hướng nguyện cho Đất nước hòa bình, trẻ em nơi nơi đều được sống trong tình yêu thương, sự chăm sóc của gia đình, xã hội. Nhà nhà đều quay về nương tựa giáo pháp của Phật.
Nam Mô A Mi Đà Phật!
Một số hình ảnh được ghi nhận:















.: BBT Website :.

Tuần Lễ Niệm Phật và Lễ Phật Đản

Vừa qua, tại chùa Vạn Đức đã diễn ra tuần lễ niệm Phật 7 ngày đêm nhân dịp Đại Lễ Phật Đản PL.2559 và kỷ niệm ngày Lạc thành chánh điện. Theo lời dạy của Thượng tọa Thích Hoằng Tri – trụ trì chùa Vạn Đức: “Để tưởng nhớ đến thâm ân huấn dục của Sư Ông Viện Chủ không gì hơn là thực hành lời dạy của Sư Ông ăn chay, niệm Phật, tụng kinh. Lấy công đức tu hành này dâng lên cúng dường là điều thiết thực nhất”. Thượng tọa còn gửi lời nhắc nhở đến Phật tử tham dự khóa tu: “Hành giả niệm Phật lấy Tín – Hạnh – Nguyện làm tông chỉ vì thế mà quý Phật tử cần phải tha thiết, chí thành, chuyên tâm niệm Phật và triệt để tuân thủ những nội quy đề ra để 7 ngày tu Phật thất đạt được sự lợi ích đích thực”.

Hòa trong không khí hân hoan đón mừng Phật đản PL 2559, trên khắp nẻo miền đất nước, sáng ngày mồng 08/04 tại chánh điện chùa Vạn Đức (Q.Thủ Đức – Tp.HCM) cũng đã trang nghiêm, thành kính cử hành nghi thức Lễ Tắm Phật. Theo truyền thống Phật giáo, đây là một nghi thức tỏ lòng tôn kính của người con Phật đối với sự xuất hiện của đấng giác ngộ trên cõi đời này, cách đây hơn 2500 năm và đây còn là một nghi thức tâm linh mang ý nghĩa sâu sắc về sự tẩy trừ phiền não, hướng đến thanh tịnh ba nghiệp thân khẩu ý của con người.

Sáng ngày 11/04 sau khi mãn khóa tu Phật Thất, GĐPT Đức Minh dưới sự cố vấn hướng dẫn của Thượng tọa Trụ trì đã long trọng tổ chức Đại Lễ Phật Đản. Dưới sự chứng minh và tham dự của Hòa thượng Thích Tắc Lãnh – trụ trì chùa Châu Hưng (Q.Thủ Đức – Tp.HCM); Thượng tọa Thích Hoằng Tri, chư Tôn Đại đức Tăng, Ni thuộc đạo tràng Vạn Đức và đông đảo quý Phật tử về tham dự.
Hết thảy công đức lành trong tuần lễ vừa qua nguyện dâng lên cúng dường mười phương Tam Bảo, cúng dường Sư Ông Viện Chủ. Nguyện hồi hướng cho hết thảy chúng sanh phá mê khai ngộ, quy y Phật Đà, nhất hướng chuyên niệm lục tự Mi-đà, ngõ hầu sau khi xả bỏ báo thân được vãng sanh Tây phương Cực Lạc Thế giới.
Nam-mô A-mi-đà Phật!
Một số hình ảnh được ghi nhận:
* Hình ảnh Khóa tu niệm Phật 7 ngày












* Chùm ảnh không khí Lễ Phật Đản





















* Lễ Tắm Phật






.: BBT Website :.

Giới Thiệu

Tin Tức

Phật Học Thường Thức

Hương Sen Vạn Đức